Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

TỆ NẠN PHÂN HOÁ TRONG NỘI BỘ HỒI GIÁO

TỆ NẠN PHÂN HOÁ TRONG NỘI BỘ HỒI GIÁO


             Trong quá trình phát triển theo thời gian, hầu như không có tôn giáo nào thoát khỏi tệ nạn phân hóa. Tuy nhiên, có tôn giáo phân hóa trong hòa bình, như đạo Phật chẳng hạn (Đại Thừa, Tiểu Thừa không bao giờ chém giết nhau). Trái lại, hầu hết các đạo độc thần đã đi đến sự phân hóa sau các cuộc xung đột gay gắt và luôn luôn kéo theo các cuộc "thánh chiến" đẫm máu trong nhiều thế kỷ. Điển hình là sự phân hóa của Công Giáo La Mã: Công Giáo Đông Âu tách rời năm 1052 để biến thành Chính Thống Giáo, Công Giáo Anh ly khai trong thế kỷ 16 biến thành Anh Giáo và phong trào cải cách tôn giáo do Luther khởi xướng vào đầu thế kỷ 16 cũng đưa đến sự ly khai khỏi Công Giáo La Mã để hình thành các giáo phái Tin Lành. Tất cả các tôn giáo và giáo phái ly khai đều đã bị Công Giáo dùng sức mạnh quân sự đàn áp trong máu lửa.
            Tình trạng phân hóa của đạo Hồi đã xảy ra rất sớm vì nó đã diễn ra chỉ vài chục năm sau khi giáo chủ Muhammad qua đời. Hậu quả của sự phân hóa này đã làm thiệt mạng nhiều chục triệu tín đồ Hồi Giáo trong 14 thế kỷ qua và hiện nay vẫn còn tiếp tục.
            Sự phân hóa của đạo Hồi là sự phân hóa đẫm máu nhất và lâu dài nhất trong lịch sử các tôn giáo trên thế giới.
             Có 3 nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa thảm khốc:
 
            1. Khi sắp qua đời, Muhammad đã không tiên liệu việc chỉ định người kế vị để cai trị cộng đồng Hồi Giáo của ông.
 
            2. Đối với các tín đồ cuồng tín thì kinh Koran là cuốn sách toàn hảo về mọi phương diện. Trong thực tế, Koran là cuốn sách rất mơ hồ về giáo lý và rất nhiều thiếu sót về luật pháp. Do đó người ta đã phải bổ túc bằng những cuộc điều tra để thu thập các bản báo cáo về hành vi và lời nói của Muhammad. Các báo cáo này được đúc kết lại thành sách Hadiths (Collections of Reports). Các Hadiths được tập trung lại đúc kết thành Sách Sunna để làm sách gối đầu giường cho mọi hành động của tín đồ Hồi Giáo (Ways of Acting). Tất cả các sách nói trên được các nhà làm luật Hồi Giáo tham khảo để soạn ra luật Hồi Giáo gọi là Sharia (Holy Islamic Law). Kinh Koran mơ hồ thiếu sót đã đưa đến những lý luận giải thích khác nhau, từ đó phát sinh những phe phái khác nhau trong đạo Hồi. Các sách Hadiths, Sunna và Sharia cũng không được tất cả công nhận. Có những sách được phe này công nhận lại bị phe khác phủ nhận và kết án là tà đạo...
            Đạo Công Giáo cũng bị phân hóa nghiêm trọng trong thế kỷ 16 (sự tách rời của Anh Giáo và Tin Lành) nhưng từ đó đến nay Giáo Hội Công Giáo vẫn đứng vững vì Giáo Hội Công Giáo hoàn toàn tùy thuộc vào quyền lãnh đạo duy nhất của giáo hoàng ở Vatican. Không một người nào có quyền giải thích Thánh Kinh khác với giáo hoàng. Do đó, Giáo Hội Công Giáo đã không bị phân hóa từ thế kỷ 16 đến nay. Trái lại, Tin Lành không có lãnh đạo trung ương và mọi người đều có quyền tự do giải thích Thánh Kinh nên đến nay Tin Lành đã bị phân hóa thành 300 giáo phái. Hồi Giáo cũng tương tự như vậy vì Hồi Giáo không có Tòa Thánh tối cao có quyền cai trị toàn thế giới Hồi Giáo. Sự tự do giải thích kinh Koran và các sách Hadiths, Sunna, Sharia... đã đưa đến tình trạng phân hóa thành rất nhiều giáo phái trong đạo Hồi.
 
            3. Nguyên nhân tiếp theo là sự bành trướng quá rộng của các đế quốc Hồi Giáo khiến cho giáo lý của đạo Hồi bị pha trộn với các nền văn hóa khác. Điển hình là các giáo phái Sufis và Bahai đã hình thành do chịu ảnh hưởng của các dòng khổ tu của Công Giáo La Mã, một phần khác do ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp và giáo lý của nhiều tôn giáo khác.
 
I.  Sự phân hóa nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hồi Giáo do vấn đề thừa kế Muhammad.

            Ba mươi năm sau khi Muhammad qua đời, cộng đồng Hồi Giáo non trẻ đã bị chia thành hai phe thù nghịch nhau chỉ vì bất đồng ý kiến trong vấn đề kế thừa quyền lãnh đạo của giáo chủ Muhammad về thế quyền và về tinh thần:
 
Phe SUNNI,  tiếng Ả Rập có nghĩa là phe Đa Số (Majority) chủ trương: những người kế vị Muhammad (Caliphs) không nhất thiết phải là người thuộc dòng dõi của ngài vì Muhammad không qui định điều này, ngài không có con trai và chỉ có một con gái duy nhất còn sống sót là Fatima, vợ của Ali mà thôi. Vào thời điểm đó, Hồi Giáo đã trở thành một đế quốc khá lớn nên không thể tìm người lãnh đạo thuộc dòng dõi của Muhammad để cai trị nhiều quốc gia trong đế quốc được.
 
Phe SHI'A (hoặc Shiites) có nghĩa là những người theo Ali (con rễ của Muhammad) chủ trương: Người thừa kế Muhammad thẩm quyền cai trị về thế quyền, tiếng Ả Rập gọi là CALIPH (or Khaliph: a male leader of Islamic government) phải là con cháu của Ali và Fatima. Người thừa kế Muhammad thẩm quyền lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo về mặt tinh thần, tiếng Ả Rập gọi là IMAM (the religious leader of the Muslim community) phải là một vị thánh (a holy man) thuộc dòng dõi Ali-Fatima vì theo họ, Ali là vị Imam đầu tiên của Hồi Giáo do Muhammad chỉ định. Giáo phái Shiite tin rằng: Ali và những người thừa kế được Thiên Chúa ban ơn soi sáng đặc biệt để cai trị cộng đồng Hồi Giáo nên không thể sai lầm (infallible). Imam không chỉ cai trị thế giới Hồi Giáo mà sau này toàn nhân loại sẽ phải tùng phục ngài. Xin ghi thêm ở đây là trong ngôn ngữ Việt Nam không có danh từ tương đương với chữ Imam. Tuy nhiên, theo cách hiểu của giáo phái Shi'a về Imam thì chức vị này tương tự như chức vị "Giáo Hoàng" của Công Giáo La Mã vậy. Người Công Giáo coi giáo hoàng là một vị cha chung và cũng là một vị Thánh (Saint Pape) và về phương diện lãnh đạo tinh thần của toàn giáo hội thì giáo hoàng không thể sai lầm (Doctrine of Infallibility).
            Qua 14 thế kỷ phát triển, ngày nay đạo Hồi chiếm 1/5 tổng số nhân loại, tức khoảng 1 tỷ 200 triệu tín đồ. Phe Sunni chiếm 80%, tức 960 triệu tín đồ.
 
Phe Sunni cũng không còn là một khối đa số thuần nhất vì nó đã bị chia thành 4 trường phái lớn (Schools):
            1. Malikite:  Thành lập vào giữa thế kỷ 8 tại Bắc Phi.
            2. Shafi (Pháp ngữ gọi là Chafeite): Thịnh hành tại Ai Cập, Syria, Ấn Độ và Việt Nam (người Chàm).
            3. Hanbalite: Đạo Hồi của đế quốc Ottoman, thịnh hành tại Thổ Nhĩ Kỳ.
4. Hanbali:  Đạo Hồi của xứ Saudi Arabia.
 
Phe thiểu số Shiah chiếm 15%, tức khoảng 180 triệu tín đồ, cũng bị chia thành 3 giáo phái hết sức bảo thủ, cực đoan và thường tranh chấp lẫn nhau:
            1. Giáo phái Twelvers nắm ưu thế chính trị tại Iran, chủ động trong cuộc Cách Mạng Hồi Giáo 1979 lật đổ hoàng đế Palavi. Giáo chủ của Twelvers là Aytollah Khomenei lên nắm chính quyền. Cuộc Cách Mạng này bị toàn thế giới Hồi Giáo tẩy chay vì nhóm lãnh đạo Twelvers rất cuồng tín độc tài và tàn bạo.
            2. Giáo phái Druge xuất hiện và thịnh hành tại Li Băng và Syria từ thế kỷ 11 đến 19. Ngày nay giáo phái này bị suy tàn chỉ còn trên 1 triệu tín đồ.
            3. Giáo phái Assassin được thành lập năm 1090 tại Ba Tư gồm toàn những người liều mạng để ám sát tiêu diệt những kẻ thù của Hồi Giáo. Giáo phái này chia thành hai nhóm: Nhóm thám báo truy tầm, điều tra, đánh dấu nhà của các kẻ thù. Sau đó nhóm khủng bố sẽ tìm đến để thanh toán. Giáo phái Assassin gieo kinh hoàng khắp nơi trong suốt hai thế kỷ 11 và 12, đến nỗi khắp Âu Châu, người ta loan truyền rất nhiều chuyện kinh dị về giáo phái này. Về sau, danh từ "ASSASSIN" trở thành một danh từ mới của Âu Châu có nghĩa là "KẺ MƯU SÁT". Năm 1256, quân Mông Cổ tàn phá bình địa đại bản doanh của Assassin tại Baghdad và sau đó tận diệt giáo phái này.
            Như trên đã trình bày, sự phân hóa đầu tiên và nghiêm trọng nhất là sự kiện đạo Hồi bị chia ra hai phe Sunni và Shiah do bất đồng ý kiến về quyền thừa kế Muhammad. Lúc ban đầu không ai có thể tiên đoán được hậu quả tàn khốc của nó vì không ai có thể ngờ cái nguyên nhân nhỏ nhặt đó lại có thể gây ra những vụ chém giết triền miên trong suốt 14 thế kỷ làm thiệt mạng nhiều chục triệu người!
            Sau đây chỉ là một số vụ tranh chấp điển hình giữa phe Sunni và Shiah trong bối cảnh các đế quốc Hồi Giáo mà thôi. (Trong lịch sử 14 thế kỷ của Hồi Giáo đã xảy ra rất nhiều cuộc xung đột đẫm máu giữa hai phe Sunni và Shiah khiến chúng ta khó có thể kể ra hết được):
            - Năm 1400, hoàng đế Timur của đế quốc Hồi Giáo Sunni đánh chiếm hai nước Iran và Iraq đã ra lệnh giết hại trên 1 triệu tín đồ Shiites tại hai nước này.
            - Năm 1467, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman theo Sunni đánh chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và Arabia.  Đế quốc Ottoman cai trị các nước này từ đó đến 1520 (53 năm). Vì bị những người Shiites thường nổi lên chống phá nên đế quốc Ottoman đã thẳng tay tiêu diệt nhiều triệu tín đồ Shiites tại các nước này.
            - Đế quốc Hồi Giáo Safavid theo phái Shiites tồn tại 270 năm (1501-1771), mỗi khi đế quốc Safavid đánh chiếm và cai trị nước nào thì toàn bộ các học sĩ Hồi Giáo Sunni (clerics) đều bị chặt đầu và hàng triệu tín đồ Sunni bị sát hại.
            Ngoài các vụ tranh chấp lớn giữa các đế quốc Hồi Giáo Sunni và đế quốc Hồi Giáo Shiah, còn có rất nhiều các vụ tranh chấp nhỏ giữa hai phe trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia Hồi Giáo. Các vụ tranh chấp này cũng không kém phần thảm khốc và làm tổn hại rất nhiều sinh mạng. Điển hình là trường hợp của Iraq.
            Theo báo Houston Chronicle ngày Chủ nhật 18-5-03 (trang 23 A) thì vào thế kỷ đầu Công Nguyên, hai nước Syria và Iraq sát nhập làm một dưới cái tên là Assyria. Ngôn ngữ chung là Aramaic tức tiếng mẹ đẻ của Jesus và của dân Do Thái thời đó. Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, Assyria là một nước Ki Tô Giáo (A Christian Nation), nhưng từ thế kỷ 7 trở đi, Assyria thành hai nước Hồi Giáo. Iraq hiện nay có 60% theo Shiites, 30% theo Sunni. Phe cầm quyền Saddam Hussein thuộc giáo phái Sunni nắm quyền sinh sát của một quốc gia có 25 triệu dân từ 1979 đến 2003. Ki Tô Giáo (gồm Công Giáo La Mã và Chính Thống Giáo Hy Lạp ) gồm có 1 triệu tín đồ, chiếm 4% dân số cả nước.
            Chế độ Saddam Hussein rất khoan dung đối với Ki Tô Giáo nhưng trong vòng 10 năm từ 1979-1989, chế độ Sunni của Saddam đã sát hại nhiều trăm ngàn tín đồ Shiites tại đất nước này!
 
II . Sự phân hóa về giáo lý.-

            Do sự bành trướng của các đế quốc Hồi Giáo tới các vùng khác nhau đã tạo cơ hội cho người Hồi Giáo tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Dần dần giáo lý Hồi Giáo bị biến chất và một số giáo phái mới của Hồi Giáo đã xuất hiện. Đáng kể nhất là hai giáo phái Sufism và Bahai.
 
            1. Giáo phái SUFISM.  Vào đầu thế kỷ 8, đạo Hồi đã phát triển ra khắp Bắc Phi, Cận Đông và Trung Á. Nền kinh tế phát triển cho toàn vùng trở nên giàu có. Các vua Hồi thu thuế rất nhiều đã dồn tiền vào việc xây cất các cung điện nguy nga đồ sộ và các harems của họ đầy ắp các cô gái đẹp. Đời sống của các vua quan Hồi Giáo chìm ngập trong các cuộc vui chơi xa hoa trụy lạc. Nhiều tín đồ Hồi Giáo chân chính tự hỏi: "Những lời dạy trong kinh Koran có còn giá trị gì không?". Dần dần họ tạo thành một phong trào cổ võ đời sống đơn giản, mặc quần áo thô sơ, thái độ hòa nhã khiêm tốn và ẩn dật. Họ kêu gọi mọi người thực hiện lối sống khổ hạnh, đạo đức và dành nhiều thì giờ cho sự cầu nguyện. Người nổi tiếng nhất trong cuộc vận động này là triết gia Hồi Giáo Hasan. Ông đi thuyết giảng khắp nơi trong nhiều chục năm thuộc tiền bán thế kỷ 8 và đã tạo nên những ảnh hưởng lớn trong quần chúng.
            Trong lúc đó, tại khắp miền Trung Đông có nhiều tu viện của các dòng khổ tu Công Giáo. Người Hồi Giáo tiếp xúc với các thầy tu khổ hạnh này nhận thấy họ là những người có lòng đạo đức thật sự và họ luôn luôn mặc áo vải thô, tiếng Ả Rập gọi là "Sufi". Đến đầu thế kỷ 9, nhiều người Hồi Giáo Sunni và Shiite thích lối sống khổ hạnh đạo đức của các thầy dòng khổ tu Công Giáo đã lập ra giáo phái Sufism (do chữ sufi là chiếc áo vải thô của tu sĩ khổ tu mà ra).
            Giáo phái Sufism có sức lôi cuốn mạnh mẽ trong giới trí thức Hồi Giáo. Vào đầu thế kỷ 10, khắp miền Trung Đông có nhiều "Trung tâm Sufis" được thành lập, mỗi trung tâm được tổ chức như một nhà dòng của tu sĩ khổ tu Công Giáo, đứng đầu là một ông thầy (Master) thông thái hướng dẫn về đời sống tinh thần và đạo đức của mọi tín đồ.
            Từ thế kỷ 12, giáo phái Sufism mở rộng ra toàn Bắc Phi và Tiểu Á. Bên cạnh mỗi "Trung Tâm Sufis" còn có trường học, đền thờ và khách sạn để phục vụ khách thập phương đến học đạo. Một trung  tâm Sufis tiêu biểu mang tên Abd-Al-Quadir được xây cất năm 1166 tại Baghdad đến nay vẫn còn tồn tại.
            Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, giáo phái Sufism lan tràn khắp nơi trên thế giới. Điều đáng chú ý là các giáo sĩ Sufis đã đóng vai trò chính yếu trong việc đem đạoHồi vào Indonesia và Malaysia. Họ không chinh phục tân tòng bằng bạo lực mà " mở rộng nước Chúa" bằng gương đạo đức thật sự với những chiếc áo vải thô, với cuộc sống đơn giản khổ hạnh và với tấm lòng cởi mở khoan dung. Chính nhờ đó mà các tín đồ Hồi Giáo Nam Dương - Mã Lai thường có thái độ sống khoan hòa chứ không cuồng tín hiếu chiến hiếu sát như những đồng đạo của họ ở Trung Đông hay Afganistan...
 
            2. Giáo phái BAHAI (Bahaism, Babism).- Giáo phái Bahai đã tách ra từ Shiah, được thành lập bởi giáo chủ Balla Ullah sinh năm 1817 tại Iran. Giáo phái này phủ nhận Jesus là Chúa Cứu Thế (Christ) và phủ nhận Muhammad là sứ giả cuối cùng của Thiên Chúa. Chính vì điều này mà giáo phái Bahai đã bị cả hai đạo Ki Tô Giáo và Hồi Giáo thù ghét. Tuy vậy, giáo lý Bahai đã được truyền bá ra khắp nơi trên thế giới. Trụ sở chính yếu của giáo phái này đặt tại Haifa (Do Thái).
            Vào năm 1954, một tín đồ Bahai gốc Ấn Độ đã sang Việt Nam truyền đạo và thiết lập trụ sở Bahai đầu tiên tại Saigon vào năm 1955. Đến 1962, giáo phái Bahai có tới 40 trụ sở trên khắp miền Nam Việt Nam (theo sách Nếp Cũ Tín Ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh, trang 109).
            Giáo phái Bahai có chủ trương tương tự như đạo Cao Đài hoặc Thông Thiên Học, đó là tham vọng hòa đồng các tôn giáo. Họ cố gắng tổng hợp giáo lý của các tôn giáo đã có từ trước với hy vọng sẽ thống nhất niềm tin của nhân loại trong hòa bình. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của giáo phái Bahai là họ cổ động mọi người chuẩn đón mừng một Chúa Cứu Thế (đấng Ki Tô) sẽ xuất hiện để thiết lập "Nước Chúa Trên Trái Đất" (A Kingdom of God on earth). BAHAI là chữ tắt của chữ Ả Rập BAHA'U IL có nghĩa là "Vinh Danh Chúa". (Viết theo Islam, by Ceasar Farah, Sixth edition, Barrons Pub., page 252).
 

                            Charlie Nguyễn