Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

NHỮNG CHUYỆN BÍ MẬT Ở NÚI SỌ

NHỮNG CHUYỆN BÍ MẬT Ở NÚI SỌ

(The Secrets of Golgotha)


Tiếng Do Thái "Golgotha" có nghĩa là Sọ Người (Skull). Tại vùng ngoại ô phía tây bắc Jerusalem có một ngọn đồi cao 11 mét, trông xa giống như cái sọ người nên từ xa xưa người Do Thái đã đặt tên cho nó là "Đồi Sọ" (Golgotha Hill). Nhưng từ khi đế quốc La Mã thống trị chọn ngọn đồi này làm nơi hành hình các tử tội, phần đa số là những người yêu nước chống đế quốc, nên dân thành Jerusalem gọi ngọn đồi ấy là Núi Sọ Người (Mount of Golgotha).
Chính tại nơi đây, Jesus và hai người khác đã bị lính La Mã xử tử bằng cách đóng đinh vào thập giá.  Ngọn đồi Golgotha đã trở thành thánh địa trong trái tim của các tín đồ Kitô Giáo trên khắp thế giới.  Tuy nhiên, họ chỉ biết chuyện Chúa chết theo sự mô tả với đầy dẫy những điều xuyên tạc bóp méo lịch sử của những kẻ chủ mưu lập đạo Ki Tô qua các sách phúc âm mà thôi.  Còn chuyện gì thật sự đã xảy ra cho Chúa, chúng ta cần phải đợi sự xác minh của các sử liệu và các bằng chứng có giá trị khách quan sau khi đã được kiểm chứng bởi các chuyên gia khả tín của các ngành khoa học hiện đại.
Năm 1994, hai học gia Đức là Holger Kersten và Elma R. Gruber đã cho xuất bản tác phẩm để đời : The Jesus Conspiracy - The Turin Shroud & The Truth about the Resurrection (337 trang, Element Co. Hoa Kỳ in lại hai lần trong cùng năm 1994), làm chấn động dư luận quốc tế.  Đề tựa của cuốn sách khá dài vì nó đề cập tới bốn vấn đề chủ yếu của nội dung sách này:
1. Tất cả những câu chuyện của Thánh kinh nói về cái chết của Jesus để "chuộc tội cứu thế" chỉ là một Âm Mưu Xảo Trá của Jesus (The Jesus Conspiracy).
2. Tất cả các thánh tích (relics) mà Vatican nói là đồ thật hầu rao bán từ xưa đến nay để hốt bạc, thực sự tất cả chỉ là đồ giả, không có một cái nào là thật cả.Trái lại,  thánh tích có một không hai của toàn bộ hệ thống Ki Tô Giáo là tấm khăn liệm xác Jesus hiện lưu trữ tại nhà thờ lớn thành phố Turin (Ý) là di vật duy nhất thật  của chính Jesus ( The Turin Shroud).
3.  Cuộc giảo nghịệm của giới khoa học quốc tế vào tháng 10 - 1978 tại Turin đã xác nhận tấm vải liệm ở Turin là thật. Những chứng tích của sự thật còn in dấu vết trên tấm vải liệm đó đã tố cáo âm mưu bịp bợm của những kẻ lập đạo Ki Tô.  Các nhà khoa học đã chứng minh: khi "được liệm xác" Jesus vẫn còn sống chứ không chết. Jesus đã thoát chết là nhờ có rất nhiều tín đồ tay trong bí mật cứu giúp từ trước đến sau vụ đóng đinh. Thậm chí viên sĩ quan La Mã, trưởng toán hành hình Jesus, cũng là một tín đồ bí mật nên y đã không đập gẫy chân Jesus. Sau đó, Jesus đã được các tu sĩ đồng đạo thuộc giáo phái Essenes của giáo chủ Jean Baptist (sư phụ của Jesus) dùng khối lượng 100 pounds dược thảo để cứu sống Jesus thành công.  Vậy Jesus đã chẳng những "không chết để chuộc tội thiên hạ" và cũng chẳng bao giờ là "Đấng từ kẻ chết sống lại hiển vinh". Ngài thực sự chỉ là "Đấng Đại Bịp Quốc Tế"đáng nguyền rủa chứ không thể tôn thờ !
Di vật thứ thiệt của Jesus là tấm vải liệm ở Turin và kết quả giảo nghịêm quốc tế tháng 10 - 1978 là hố chôn toàn hệ thống Ki Giáo (gồm Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo, Anh Giáo và tất cả các giáo phái Tin Lành). Đó cũng là tất cả sự thật về cái gọi là sự Phục Sinh của Chúa Kitô (The Truth of the Resurrection of Christ). 
4. Vì thấy kết quả cuộc giảo nghiệm quốc tế gây nguy hại cho sự tồn vong của Công Giáo La Mã nên Tòa thánh Vatican đã đơn phương ngụy tạo một cuộc giảo nghiệm khác bằng thử nghiệm radiocarbon tests nhằm đánh lạc sự chú ý của thế giới về những kết quả xác đáng của giới khoa học quốc tế đã được công bố trước đây về những bí mật của Tấm Vải Liệm xác Jesus hiện lưu trữ tại Turin.
Nguyên bản tác phẩm này được viết bằng tiếng Đức và được chính các tác giả chuyển ngữ sang tiếng Anh vì cả hai đều tốt nghiệp Đại Học ở Đức và Hoa Kỳ.  Nguyên bản Đức Ngữ đã được dịch sang nhiều thứ tiếng, riêng bản Anh ngữ của hai tác giả này đã được dịch ra 7 thứ tiếng khác cũng trong năm 1994.  Từ đó đến nay, có thể tác phẩm này đã được tái bản và dịch thêm ra nhiều ngoại ngữ khác nữa.
Sau trên 10 năm nghiên cứu lịch sử và tiếp xúc với rất nhiều nhà khoa học đã từng tham dự vào các cuộc điều tra khoa học và giảo nghiệm liên quan đến các chứng tích lịch sử Kitô Giáo, các tác giả mới có đủ các dữ kiện hoàn thành tác phẩm độc đáo này.  Bài viết của Elma. R. Gruber trong tác phẩm The Jesus Conspiracy mang tựa đề "Những chuyện bí mật ở Núi Sọ Người" (The Secrets of Golgotha) đã tố cáo trước dư luận quốc tế rất nhiều bằng cớ về những âm mưu bí hiểm chung quanh cái chết của Jesus như sau:
Khoảng cuối thập niên 20 đầu Công nguyên, Jesus 33 tuổi, nguyên là thợ mộc ở Galilee, đã bị quan toàn quyền La Mã Pilate kết án tử hình về một tội phạm chính trị:  "Âm mưu gây bạo loạn chống chính quyền". (Ghi chú: Tên thật của Pilate theo tiếng La Tinh là PONTIUS PILATUS). Nguyên nhân vì trong dịp cả nước Do Thái kỷ niệm đại lễ Vượt Qua (Passover) dân chúng tứ  phương đổ về Jerusalem rất đông. Để đề phòng một cuộc bạo loạn chính trị có thể xảy ra trong dịp có quá đông dân chúng hỗn tạp tập trung tại Jerusalem, quan toàn quyên Pilate đã điều động nhiều đơn vị quân đội từ nhiều nơi về bố trí tăng cường bảo vệ an ninh cho thủ đô Do Thái trong dịp đại lễ này.Việc du kích và nhân dân Do Thái lợi dụng cơ hội này nổi loạn chống chính quyền là điều rất dễ xảy ra trong hoàn cảnh tình thế rất hỗn tạp này. Chính vì chuẩn bị đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra nên Pilate đã điều động nhiều đơn vị quân đội từ nhiều nơi về Jerusalem để tăng cường bảo vệ an ninh.
Cũng trong dịp đại lễ Passover này, Jesus đã ngang nhiên phá rối trật tự an ninh tại trung tâm của buổi lễ là Đền Thánh Jerusalem của giáo phái thù địch là Phrisees. Bởi lẽ Jesus là đệ tử của Jean Baptist, giáo chủ giáo phái Essenes, vốn rất căm ghét giáo phái Pharisees từ lâu nên đã nhân dịp này xâm nhập Đền Thánh la lối phá phách, đánh đuổi những người bán lễ vật cho khách hành hương tham quan Đền Thánh hoặc đổi tiền cho những khách ngoại quốc về dự lễ.
Trong tác phẩm "The Historical Jesus", linh mục John Dominic Crossan đã viết : " Những gì đã xảy ra cho Jesus cũng là những điều đã xảy ra trước đó cho John. Đó là hình phạt tử hình mang tính chất chính trị và tôn giáo. Chỉ một hành vi phá phách Đền Thánh như vậy, nhất là trong dịp đại lễ quốc khánh trong tình hình dễ xảy ra bạo loạn này, đã hoan toàn hội đủ yếu tố đưa đến hình phạt bị đóng đinh trên thập giá vì lý do hỗn hợp tôn giáo chính trị. (What would happen to Jesus was probably as predictable as what had happened already to John. It seems clear that Jesus confronted with The Temple 's rich magnificence . Such an act, if performed in the volatile atmosphere of Passover, a feast that celebrated Jewish liberation from inaugural imperial oppression, would have been quite enough to entail crucification by religiopolitical agreement.  - The Historical Jesus, p. XII)       
Toán lính La Mã thi hành bản án tử hình Jesus, do Đại Úy Longinus cầm đầu, đã dẫn Jesus lên đồi Golgotha xử tử bằng cách đóng đinh Jesus vào thập giá cùng với hai tử tội khác.  Lúc đó là buổi chiều ngày thứ sáu.  Ngày hôm sau là ngày Đại Lễ Vượt Qua (Passover) kỷ niệm Thánh Moses đã dẫn dân tộc Do Thái vượt qua Hồng Hải trốn thoát ách nô lệ Ai Cập trong nhiều thế kỷ trước. Lễ này luôn luôn nhằm vào ngày rằm vì người Do Thái thời đó xử dụng Âm Lịch.  Kỳ lễ năm ấy lại trùng vào ngày thứ bảy (Sabbath).  Theo tục lệ Do Thái thì mọi tử tội đều phải được chôn cất trước ngày Sabbath.  Đạo Do Thái là đạo của Luật (The Religion of Law) vì thế, nói đến luật, mọi người sẽ hiểu là luật của đạo Do Thái.  Luật đạo Do Thái dạy rằng: "Không được để ánh sáng mặt trời chiếu trên xác tử tội vào ngày Sabbath". Do đó thân xác của tử tội Jesus sẽ được tháo xuống trong buổi chiều trước ngày Sabbath theo đúng với luật lệ tôn giáo của Do Thái.
Jesus có hai người bạn thân là Joseph Arimathea và Nicodemus, cả hai đều rất giàu và có quyền thế vì họ đều có chân trong Hội Đồng Tối Cao Do Thái (Sanherin).  Hội đồng này có 70 nghị viên là đại diện cho đạo Do Thái, đồng thời cũng là cơ quan chính quyền bản xứ do La Mã lập ra để phụ trách trông coi việc thi hành các luật pháp và tục lệ của xứ thuộc địa này.
Joseph và Nicodemus, với tư cách là những nghị viên Viện Sanherin Do Thái đã có dịp tiếp xúc và quen thân với Pilate.  Do đó, cả hai người được biết chính quyền La Mã đã quyết định tìm bắt và xử tử Jesus vì lý do những hoạt động gây bạo loạn vừa xúc phạm Đạo Do Thái vừa gây nguy hại đến an ninh và công cuộc trị an của La Mã.
Mặc dầu đã biết trước mọi việc sẽ xảy ra cho Jesus nhưng Joseph và Nicodemus tự biết không thể cứu Jesus thoát khỏi án tử hình, do đó Joseph và Nicodemus tìm cách hối lộ và thuyết phục Pilate cho phép họ được tháo xác Jesus xuống khỏi thập giá càng sớm càng tốt để kịp thời cứu sống ngài.
 Đây là một biệt lệ vì luật pháp La Mã tuyệt đối cấm thân nhân mang xác tử  tội về nhà chôn, các xác tử tội đều bị vứt vào hang hoặc bãi hoang cho kên kên, thú dữ hoặc chó hoang ăn thịt.  May mắn thay, đề nghị của Joseph và Nicodemus đã được Pilate chấp thuận.  Joseph liền bỏ tiền mua một khu vườn có cây cối rập rạp nằm sát chân đồi GolGotha và xây tại đây một ngôi mộ lớn có nhiều phòng.
Nicodemus mua một số thuốc cứu thương rất lớn.  Phúc âm của John cho biết: "Nicodemus đến với Chúa vào ban đêm, mang theo dầu Myrrh và Aloe nặng 100 stones"  (John 19:30). Stone là đơn vị đo lường của Do Thái thời đó, mỗi stone tương đương với  một pound.
 Aloe là chất thuốc có khả năng gây mê (coma) tẩy uế đờm dãi, tống khứ chất độc trong người và làm các vết thương mau lành.
Khi Jesus bị treo lên thập giá, Ngài kêu khát nước, sĩ quan chỉ huy toán hành hình đã lấy miếng bọt biển, (sponge) thấm "dấm" rồi lấy cây giáo đưa miếng bọt biển đó lên miệng Jesus để Ngài uống giải khát.  Viên sĩ quan đó là thuộc hạ thân tín của Pilate nhưng đồng thời cũng là một tín đồ bí mật của Chúa.  Phúc âm của Mark ghi rõ (15: 39, 27: 54):  "Viên sĩ quan này là người đã từng ngợi khen Chúa là con Đức Chúa Trời".  Và "Sau khi uống dấm xong, Chúa phán "Công việc đã hoàn thành" rồi Ngài cúi đầu xuống và trút linh hồn".
Thánh kinh nói chất nước Jesus uống lúc còn bị treo trên thập giá là dấm, nhưng có phải là dấm thật không?  Tại sao vừa uống dấm xong thì Ngài chết liền?  Căn cứ vào những chất thuốc mà Nicodemus đã mang đến núi Sọ là dầu myrrh và aloe, người ta có thể suy đoán nước dấm Jesus uống có pha hai chất thuốc này để gây mê.  Các nhà khoa học phân chất aloe đã tìm thấy chất phenol có tác dụng gây mê (coma).  Dầu myrrh được lấy từ cây commiphora đã được người Hy Lạp xử dụng từ lâu để trị vết thương và tẩy uế (sát trùng).  Ông tổ y khoa Tây phương là Hippocrate đã ca ngợi dầu myrrh là một thần dược, chẳng những chữa trị vết thương mau lành mà còn ngăn ngừa được các bệnh dịch.  Ngoài ra, ở Palestine vào thời đó, người ta đã biết xử dụng thuốc phiện để làm thuốc giảm đau.
Do đó, chất dấm mà viên sĩ quan "tín đồ bí mật của Chúa" đã cho Ngài uống có thể là một chất tổng hợp các thứ thuốc nói trên khiến cho Ngài vừa mới uống xong thì bất tỉnh liền.  Cũng người sĩ quan đó lấy cây giáo "quệt sơ" vào cạnh sườn của Chúa để cho những tên lính La Mã khác thấy Chúa không giật mình cựa quậy nên tưởng Ngài đã chết rồi và tha cho Ngài cái cực hình bị đập gẫy hai chân.  Vì đã được phép của Pilate, Joseph và Nicodemus vội vàng tháo xác Jesus xuống và đưa ngay vào nhà mồ kín đáo trong khu vườn của Joseph ở ngay sát chân đồi.
Tại nhà mồ này, Josep và Nicodemus đã để sẵn một phiến đá dài bằng phẳng dùng làm ghế nằm, trên đó trải sẵn một tấm vải trắng thuộc loại đắt tiền, dài 4m36, rộng 1m10.  Vì tấm vải rất dài nên chỉ cần một nửa tấm vải cũng đủ phủ lên mặt ghế đá.  Nicodemus cẩn thận rắc các thứ thuốc và dầu myrrh lên tấm vải trước khi đặt xác của Jesus lên đó.  Toàn thân của Jesus lúc ấy bê bết máu đã in lên tấm vải trắng những vết roi trên lưng, mông, đùi và chân.  Cũng nhờ những dấu máu trên tấm vải này, người ta đã đo được chiều dài của Jesus từ đầu xuống gót chân là 1 mét 82 và ước lượng ngài nặng 79 kilô.
Phân nửa tấm vải còn lại đã được Joseph và Nicodemus trùm qua đầu, qua ngực, xuống tới chân của Chúa.  Lúc ấy, hai tay của Chúa được để vắt chéo lên bụng.  Cái mão gai trên đầu của Ngài vừa mới được tháo ra đã tạo nên những dòng máu tươi chảy tràn lên trán làm ướt hết khuôn mặt của Ngài.  Máu của Ngài pha lẫn với các thứ dầu thuốc đã được thoa khắp cơ thể tạo thành một hỗn hợp màu nâu.  Hỗn hợp màu nâu này đã in lên tấm vải phủ phía trên thân xác Ngài hình ảnh khuôn mặt với những vết gai đâm trên trán, hai ống chân còn nguyên (không bị đập gẫy) với hai lỗ đinh trên hai bàn chân và hai cánh tay vắt chéo với hai lỗ đinh trên hai bàn tay.
Lúc ấy là đêm thứ sáu, hôm sau là lễ Vượt Qua.  Toàn dân thành Jerusalem lo mừng cuộc lễ nên chẳng có ai để ý đến kẻ tử tội bị đóng đinh chiều qua.  Người tử tội được bạn bè tận tình cứu giúp đã từ từ hồi tỉnh sau cơn mê vài giờ.  Vả lại, chất thuốc mê đến lúc đó cũng đã hết tác dụng vì Ngài đã được uống thuốc xổ.
Đêm đó lại là đêm trăng rằm, Nicodemus và Jopseph được sự trợ giúp của các "thiên thần áo trắng", đã di chuyển Jesus tới một nơi an toàn và bí mật hơn để tiếp tục chữa trị.  Do sự khám phá ra những cuộn sách cổ ở Vùng Biển Chết (The Dead Sea Scrolls), người ta mới biết các "thiên thần áo trắng" là các tu sĩ thuộc giáo phái Essenes của John the Baptist.  Mọi tu sĩ của giáo phái này đều mặc áo dài trắng (white long tunic) và đều biết chữa bệnh.  Họ đi lang thang khắp nước Do Thái để giảng đạo và chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo.  Jesus là bạn đồng đạo của họ nên được họ tận tình săn sóc trong dịp này.  Lúc di chuyển Jesus rời khỏi ngôi mộ trong vườn của Joseph, họ đã để quên tấm vải trắng liệm xác Jesus tại đó.  Sáng hôm sau là ngày Chủ nhật, người Do Thái gọi là ngày đầu tuần, bà Magdelene, vợ Jesus đến mộ thăm chồng.  Kinh Thánh của John (12:1-18) kể chi tiết như sau:  Magdelene đến thăm mộ Chúa trong buổi sáng ngày đầu tuần lúc ấy trời hãy còn tối:  Bà thấy hòn đá chắn cửa mộ đã bị dời đi chỗ khác.  Bà vô cùng hoảng hốt bèn vội vàng chạy đi tìm Peter (Phêrô) và John (Gioan tông đồ) than khóc với hai người rằng: "không biết ai đã mang xác Chúa ra khỏi mộ rồi".  Nghe nói vậy, Peter và John chạy đến ngôi mộ của Chúa.  John còn trẻ, chạy nhanh tới trước, nhưng John chỉ đứng ở cửa hang ngó vào nhìn thấy tấm vải trắng chứ không dám vào hang mộ.  Peter chạy chậm tới sau bước thẳng vào hang.  Peter nhặt tấm vải lúc ấy đã được cuộn lại, khi gỡ ra, Peter thấy trong đó có chiếc khăn che mặt của Chúa nữa.
Kinh Thánh của John thuật đoạn chuyện trên với các động từ thì hiện tại (present tense) muốn chứng tỏ những sự việc này do tác giả chứng kiến trực tiếp.  Sách Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp.  Khi mô tả vết thương cạnh sườn của Chúa (the side wound), tác giả gọi đó là vết trầy nhẹ (nyssein = a light scratch).  Saint Jerome (340-420) là người đầu tiên dịch các sách Kinh Thánh Tân Ước từ tiếng Hy lạp ra tiếng La Tinh.  Bộ sách Kinh Thánh do Jerôme dịch ra được gọi là Vulgate (Sách Phổ Thông) đã trở thành bản Kinh Thánh chính thức của đạo Kitô.  Trong bản dịch Vulgate, Jerôme đã xuyên tạc nhiều điều của nguyên bản Hy Lạp.  Vết thương cạnh sườn của Jesus từ một vết trầy theo đúng chữ Hy Lạp NYSSEIN có nghĩa là vết trầy nhẹ (a light scratch) trong nguyên bản, Jerôme đã biến nó thành APERIRE có nghĩa là "một vết thương mở toang" (an open wound) với máu và nước trong người của Chúa chảy ra.  Mọi người đọc bản dịch Kinh Thánh của Jerôme có cảm tưởng vết thương cạnh sườn của Jesus là một nhát đâm dứt điểm, tương tự như "coup de grâce".  Người La Mã không hề dự liệu thủ tục "coup de grâce".  Thủ tục này do người Pháp lập ra vì lý do nhân đạo nhằm giúp các tử tội không phải chịu đựng sự đau đớn lâu dài.  Người Pháp định nghĩa coup de grâce như sau: "a deathblow delivered to end the misery of a mortally wounded victim".  Mục đích nhân đạo của "coup de grâce" hoàn toàn ngược lại với chủ đích của người La Mã.  Khi xử dụng hình phạt đóng đinh trên thập tự, họ muốn tử tội phải bị đau đớn lâu dài, dầm mưa dãi nắng, bị lột trần truồng và bị bêu xấu ở những nơi có nhiều người trông thấy, nhằm mục đích khủng bố tinh thần của đám nô lệ hay dân các nước thuộc địa.  Luật La Mã qui định thủ tục xác nhận cái chết của tử tội (confirmation of the death) bằng cách đập gẫy chân tử tội.  Với thể thức này, tội nhân không còn đủ sức để gượng nâng thân mình lên, toàn thân sẽ xuống, đầu tội nhân cúi gằm xuống ngực khiến tội nhân chết vì ngộp thở.  Luật La Mã không hề qui định việc lấy giáo đâm vào tim tử tội cho chết hẳn tương tự như "phát súng ân huệ" của người Pháp.
Người Pháp khủng bố tinh thần bằng phương pháp khác như chặt đầu chụp hình làm stamp (tem thơ, tem cò), để đàn áp tinh thần dân thuộc địa.  Vụ đầu độc Hà Thành các liệt sĩ VN đã bị Pháp chụp hình đầu lâu làm tem thơ là một ví dụ.
Mọi điều vừa nêu hãy còn sờ sờ ra đó trên các văn bản của Luật La Mã và nguyên bản Kinh Thánh Hy Lạp.  Bản địch Kinh Thánh Vaulgate của Jerôme đã để lộ nguyên hình là một sự gian trá cố tình.  Phải chăng chính vì vậy mà Jerôme đã được ghi công và được phong thánh?  Ngày nay, chúng ta hiểu tại sao giáo hội La Mã đã cấm không cho ai được phép dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp mà phải dịch ra từ bản Vulgate của Jerôme.  Mọi mưu toan dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp đều bị trả giá bằng cái chết trên dàn hỏa.  Nhưng không một sức mạnh nào có thể vượt qua được sức mạnh của sự thật.  Sự thật là sức mạnh vô địch và tối hậu sẽ tiêu diệt mọi thủ đoạn dối trá nhằm che mờ lý trí và lương tri con người.