Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

NGÀY TẬN THẾ CỦA GIÁO HỘI SATAN - CÔNG GIÁO VÀ THÁNH TỬ ĐẠO


 Năm 340, đế quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của hội nghị Nicaea do hoàng đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho giáo hội Kitô mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La tinh: Cattolica, tiếng Hy Lạp: Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu). Saint Cyril of Jerusalem đã viết trong năm 340 định nghĩa giáo hội Công Giáo như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra khỏi đời sau". (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and more important, out of next). Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3000 người.
 
Trong các năm 1512-1517, Công Đồng Lateran tái xác định giáo hội Công Giáo là giáo hội duy nhất nắm Ơn Cứu Chuộc của Chúa với khẩu hiệu: "Nulla Salus extra Ecclessian" (không thuộc giáo hội sẽ không được cứu chuộc – có nghĩa là phải sa hỏa ngục). Năm 1703, thánh De La Salle viết sách "Les Devoirs d’un Chretien" tái định nghĩa danh từ Công Giáo như sau: "Công Giáo là xã hội của đức tin được thâu tóm thành một và thuộc một thực thể được cai trị bởi các đấng chăn chiên hợp pháp mà Chúa Jesus là thủ lãnh vô hình và Đức Giáo Hoàng là thủ lãnh hữu hình trên trái đất này". (In 1703, Saint De La Salle wrote "Les Devoirs d’un Chretien" defined: "Catholicism is the society of the faithful collected into one and the same body governed by its legitime pastors of whom Jesus Christ is the invisible head and the Pope being his representative on earth".) Xin đọc các phần trích dẫn trên trong tác phẩm "A World lit only by fire" của William Manchester, do Little Brown and Co. USA. Xuất bản 1992, các trang 8-20.
 
Sau khi đọc các điều trên từ một cuốn sách ở thư viện, về nhà đọc Báo Đại Chúng Xuân Canh Thìn phát hành tại vùng Washington DC tháng 2.2000, trong đó có bài "Bên trong và đằng sau thư ngõ của các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn" của tác giả Trần Ngọc Vân với nội dung chống lại ý kiến của 10 vị nhân sĩ đã ký tên trong "Bức Thư Ngõ Gửi Giáo Hoàng Jean Paul II" đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỷ Mão (1999). Tôi rất tiếc không có số báo Vận Hội Mới nói trên nên không có dịp đọc Bức thư Ngõ của 10 vị nhân sĩ. Cho nên tôi chỉ được biết vài điểm của bức thư ngõ này qua sự trích dẫn của tác giả Trần Ngọc Vân thôi.
 
Tôi đồng ý với ông Trần Ngọc Vân là chúng ta không nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia Tô (hoặc Ca Rôma) vì trên thế giới này không có đạo nào là đạo Gia Tô cả! Chỉ có đạo Kitô hoặc Cơ-đốc. Ta phải thừa nhận một điều là các đạo thờ Chúa đều xuất phát từ Tây Phương – bao gồm Âu Mỹ và các nước Do Thái-Ả Rập. Vì vậy chúng ta cần hiểu các tôn giáo này theo định nghĩa của họ.
 
Gia Tô là tiếng phiên âm chữ Hán tên của Giêxu. Trong kinh cầu hồn bằng chữ Hán có câu: "Thiên Chúa Da-tô thục tội thi ân chi đại", có nghĩa là "Đức Chúa Giê xu chuộc tội ban ơn rất lớn". Người Tây phương dùng thần thoại Kitô (Cơ-đốc) chứ không lấy tên của Jesus (Datô) đặt tên cho đạo này. Vì vậy ta không nên gọi Công Giáo là đạo Gia (hay Da Tô). Hơn nữa, nếu hiểu Công Giáo là đạo Gia Tô, tức đạo duy nhất thờ Jesus, thì lại là một lầm lẫn lớn. Chính Thống Giáo (Anh Giáo), hàng trăm giáo phái Tin Lành, thậm chí Hồi Giáo và Cao Đài cũng có thờ Jesus nhưng không phải là Công Giáo. Sở dĩ ta phải gọi là "Công Giáo La Mã" vì có mấy thứ Công Giáo khác nhau với hệ thống giáo quyền và giáo đô khác nhau, trong đó có Công Giáo Anh, Công Giáo Hy Lạp, Công Giáo Ai Cập (Egyptian Coptic), Công Giáo Nam Phi, Công Giáo Trung Nam Mỹ với Thần Học Giải Phóng tách rời Vatican...
 
Tôi xin đề nghị chúng ta nên xử dụng danh từ "Công Giáo La Mã" là danh từ chính xác nhất để tránh lầm lẫn với các tôn giáo thờ chúa khác. Danh từ Thiên Chúa Giáo nên được hiểu là Độc Thần Giáo (Monotheism) bao gồm 3 tôn giáo lớn là Do Thái Giáo (Judaism), Hồi Giáo (Islam) và Kitô Giáo hoặc Cơ Đốc Giáo. Danh từ Christianity do nguyên ngữ Hy Lạp Christos mà ra. Christos (tiếng Anh và Pháp là Christ, tiếng Tây Ban Nha Cristo) được người Hoa phiên âm thành "Cơ Đốc". Người Việt xưa kia phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Cristo thành "Chúa Ki-ri-xi-tô" trong các sách kinh nguyện xuất bản trước Công Đồng Vaticano 1962. Sau 1962, danh từ "Ki ri xi tô" được thu gọn lại thành Kitô. Tín đồ Kitô (Christians) được dịch là Ki-tô-hữu. Đạo Kitô được gọi là Kitô Giáo bao gồm Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo vì tất cả đều tin Jesus là Chúa Kitô. Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là "Catô Rôma" vì phiên âm như vậy sẽ làm mất cái ý nghĩa "Công Giáo" là đạo chung của toàn cầu qua âm mưu thâm độc của Constantine và đế quốc La Mã trong mưu đồ dùng đạo này làm lợi khí chinh phục toàn cầu. Nếu chỉ hiểu Công Giáo là "public religion" hoặc "state religion" là quốc giáo của một quốc gia tức là đã đánh giá quá thấp tham vọng ban đầu của bọn đế quốc khi chúng diệt đạo Kitô nguyên thủy và lập ra đạo Công Giáo để dùng làm chiêu bài xâm lược toàn cầu.
 
Tôi xin đề nghị nên xử dụng danh từ "Công Giáo La Mã" để làm nổi bật cái dã tâm xâm lược toàn cầu của đế quốc La Mã núp dưới chiêu bài tôn giáo bịp bợm và ác độc của nó.
 
Theo ông Trần Ngọc Vân, tác giả bài báo đăng trên Đại Chúng Xuân Canh Thìn vào tháng 2.2000, thì 10 nhân sĩ tác giả bức thư ngỏ gửi giáo hoàng (trong đó có các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn...) đều là những người "đã xếp hàng chung với tập đoàn Cộng Sản" (Đại Chúng tr. 191). Có lẽ ông Vân ngụ ý cho rằng những nhân sĩ này đều là những cây bút tay sai Cộng Sản chỉ viết để xuyên tạc nhằm bôi lọ Công Giáo và làm lợi cho Cộng Sản. Theo tôi, dù cho nhận định của ông Trần Ngọc Vân là đúng chăng nữa thì những cây bút chống Công Giáo này không thể nào làm lợi cho Cộng Sản bằng Gioan XXIII và Paul VI trong thời chiến tranh Việt Nam.
 
Bài báo của ông Trần Ngọc Vân là động lực chính yếu đã thúc đẩy tôi viết bài này để trình bày những nhận định của một người trong cuộc (an insider) nhìn về giáo hội lâu đời của gia tộc mình. Ngoài ra, tôi là một quân nhân phục vụ 10 năm trong QLVNCH và ở tù 10 năm trong trại cải tạo sau 30.4.1975. Tất cả những nhận định của tôi trình bày trong bài này đều là những điều tôi thấy sao nói vậy, nghĩ sao viết vậy. Tôi không oán thù riêng một ai và cũng không sợ hãi bất cứ một thế lực nào. Tôi chỉ yêu sự thật và dám chết cho sự thật với niềm tự hào của một người chân thực. Mọi người thân yêu nhất của đời tôi trong quá khứ cũng như trong hiện tại, tất cả đều là người Công Giáo.
 
Tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường Công Giáo, đã chứng kiến những thảm trạng do giáo hội Công Giáo gây ra chung quanh tôi và cũng do sự học hỏi tìm tòi những sự thật lịch sử qua các sách nghiên cứu hết sức đầy đủ và có giá trị cao trong các thư viện Mỹ. Tôi đã tỉnh ngộ để có đủ tinh thần khách quan đánh giá lại niềm tin và giáo hội của mình. Tôi đã chọn cho mình một hướng đi là phải tham gia công tác giáo dục ngõ hầu giúp đồng bào đồng đạo của mình thức tỉnh để nhận cho đúng chân tướng gian ác của giáo hội Công Giáo La Mã, để không còn bị bọn tu sĩ lưu manh bóc lột và dẫn đi vào con đường tội ác chống loài người và chống dân tộc mình. Tôi cố gắng làm việc hết mình để góp phần vào công việc "Enlightenment" này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và tôi sẵn sàng chấp nhận mọi điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân, tất cả chỉ vì lòng khát khao yêu mến sự thật. Ý nguyện này có thể được tóm tắt trong khẩu hiệu:
 
"CHRISTIAN BY BIRTH ANTI-CHRISTIAN BY CHOICE".
 Trải qua gần 500 năm theo đạo, các tiền nhân của tôi đã có nhiều vị tử đạo. Tuy nhiên, tôi không lấy điều này làm niềm vinh dự. Trái lại, tôi coi đó là niềm đau xót lớn lao vì các tiền nhân đã phải đổ máu vô ích cho một thứ tà đạo mà cả loài người ngày nay đang lớn tiếng nguyền rủa nó. Ông Trần Ngọc Vân viết: "Trong một đoạn ở đầu trang 3 thư ngõ, các ông Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Nguyễn Kha còn dùng những lời lẽ hạ cấp nhất để miệt thị 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam, đồng thời mạt sát Đức Gioan Phaolồ II khi Ngài quyết định tuyên thánh cho các vị này hơn 10 năm trước". Tôi không biết các tác giả thư ngỏ đã viết ra sao mà bị ông Vân gọi là "dùng những lời lẽ hạ cấp nhất". Ở đây tôi chỉ xin bày tỏ cảm nghĩ của tôi đối với vụ phong thánh cho các tử đạo Việt Nam với tư cách là một người Công Giáo tỉnh ngộ.
 
Trong buổi lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam tại Vatican năm 1988, giáo hoàng đã đọc các lời vinh danh sau đây:
 
"Các người vinh quang của Jerusalem
Là nỗi vui mừng của Israel
Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!"
Tôi không hề thấy các người tử đạo đã đem lại một vinh dự nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại họ chỉ nhắc cho mọi người về một nguyên nhân chính yếu làm cho dân tộc Việt Nam rơi vào vòng nô lệ nhục nhã của thực dân Pháp hơn 80 năm. Họ là nguyên nhân gây mặc cảm hận thù chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng vũ trang cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm Bùi Chu Thái Bình và Lực Lượng Công Giáo Miền Nam, gọi tắt là UMDC (Unités Mobiles de Défense des Chrétiens) của đại tá Le Roy trong các năm 1946-1954. Người Công Giáo luôn luôn phản bội dân tộc, chỉ lo phục vụ Vatican và ngoại bang. Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi cũng như Le Roy ra mặt phục vụ thực dân Pháp cho đến 1954. Sau 1954, Le Roy chạy sang Pháp, còn Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh móc nối với Bình Xuyên chống chính phủ Diệm. Trong chiến tranh Pháp-Việt và Đệ Nhất Cộng Hòa, người Công Giáo chống Cộng điên cuồng không phải vì yêu nước mà để phục vụ chủ trương chống Cộng cực đoan của Giáo hoàng Piô XII. Khi Giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI trở mặt thân Cộng chống VNCH, họ cũng thay đổi theo. Năm 1966, LM Hoàng Quỳnh xua hàng chục ngàn giáo dân biểu tình phá rối trị an của VNCH. GH Paul VI tiếp thủ tướng Nga tại Vatican ngày 30.1.1967. Ngay từ đầu thập niên 60, GH Gioan XXIII đã móc nối với Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại VN đã đưa đến cuộc lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963 và rút phép thông công TGM Ngô Đình Thục. Ngày 12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh và gián điệp Vũ Ngọc Nhạ đến Củ Chi họp mật với MTGPMN để lập thành phần thứ ba trong chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản. Tất cả chỉ để thi hành mệnh lệnh của Vatican. Sau 30.4.1975, Giáo Hoàng Paul VI đã ban thưởng huy chương cho Vũ Ngọc Nhạ trong khi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đi tù cải tạo thì Tòa Thánh hoàn toàn lặng thinh không hề can thiệp!
 
Tập thể Công Giáo Việt Nam đã tự biến mình thành một giáo hội hèn hạ, hoàn toàn nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán, và nhiều khi rất nham hiểm của các giáo hoàng La Mã. Do sự việc này, chúng ta sẽ nhận ra sự độc hại của các sách kinh... "mọi nơi thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (Kinh Nhựt khóa 170-172) "Ai chẳng vâng lời Hội Thánh trong mọi việc là chẳng vâng lời Chúa tôi", "Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức giáo hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được" (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu N-127 do Cơ Sở Dân Chúa xuất bản). Cả cái tập thể Công Giáo VN, người sống cũng như người tử đạo, đều chỉ làm nhục dân tộc Việt Nam do những lời cầu kinh thiếu trí tuệ đó.
 
Tôi đau xót tự hỏi: Tại sao những người tử đạo VN đã phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem? Cái thành phố Jerusalem xa xôi kia có liên quan gì đến dân tộc VN? Báo Washington Post loan tin: Ngày 25.3.2000, Giáo Hoàng Jean Paul II đến nhà thờ The Holy Sepuleher tại Jerusalem làm lễ kêu gọi 7 chi phái Kitô Giáo tại đây hãy hợp nhất lại để xóa bỏ hận thù với nhau. Trong khi giáo hoàng làm lễ thì các nhà thờ thuộc các giáo phái khác khua chuông ầm ĩ để phá đám. Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng tuyên bố với báo chí gồm 2000 phóng viên quốc tế rằng: "Phương cách này là một cuộc chiến" (this process is a battle) và tuyên bố tiếp: "Đó là thực tế, mọi người dồn vào khu đất thiêng này nhưng chẳng ai chịu ai, chẳng ai muốn mất đi một cái gì cả" (It’s the reality, everybody is packed into sacred space and unwillingly to lose something). Cuối cùng, giáo hoàng xác nhận ngay tại Jerusalem: "Tôn giáo vẫn được dùng làm một phương tiện cho sự chia rẻ và chiến tranh" (Religion has been used as a means for division and war – Washington Post 19.3.2000 p. A30). Giáo hoàng đã công khai phủ nhận giá trị của các tôn giáo nói chung và Công Giáo nói riêng ngay tại đất thánh Jerusalem. Vậy Jerusalem chỉ là một chứng tích cụ thể về sự thất bại hoàn toàn của cái gọi là "Công Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô". Bản thân đất thánh Jerusalem còn không tạo nổi vinh quang cho mình trong mấy ngàn năm qua, hà cớ gì người Việt Nam lại phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem?
 
Tại sao người tử đạo Việt Nam phải đổ máu mình vì nỗi vui mừng của Israel? Cách đây 4000 năm, cháu nội của Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để tôn vinh thiên chúa của dân tộc Do Thái thời đó là con bò El. Do Thái thờ con bò El từ khoảng năm 4000 trước Công Nguyên, đến thế kỷ 12 trước Công Nguyên, đạo thờ bò được cải tổ thành đạo Do Thái của Môi-se (Mosaic Judaism). Môi-Se (Moses) đổi tên Thiên Chúa El hoặc Elohim thành Jehovah. Đây không phải là tên mới của Thiên Chúa mà chỉ có nghĩa là "Thiên Chúa của các tổ phụ" (Jehovah means God of Fathers) tức vẫn là Elohim, vẫn là con bò thần El. Tại sao các tử đạo VN phải chết vì nỗi vui mừng của dân tộc thờ bò là Isra-El?
 
Tôi nghĩ đến câu tục ngữ Việt Nam: "Đồ ngu như bò" và nhận thấy không có một trường hợp nào áp dụng câu tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp tử đạo Việt Nam được phong thánh với những lời vinh danh như trên của Giáo Hoàng Jean Paul II.
 
Nhân dịp này tôi xin kính gửi đến 10 vị nhân sĩ ký tên chung trong bức thư ngỏ gửi Giáo Hoàng Jean Paul II đã đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỹ Mão (1999) cũng như kính gửi đến toàn thể quí vị hằng quan tâm đến nền văn hóa và tiền đồ dân tộc một số kinh nghiệm bản thân của tôi về vấn đề Công Giáo và Dân tộc như sau:
 
1) Chúng ta nên phân biệt hai loại người đối tượng. Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi gây rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giàu như dòng tu Đồng Công ở Missouri chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp sĩ đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của LM Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mãi lo làm ăn, vô tư chất phát, họ chỉ vì thiếu hiểu biết đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết. Họ cũng như hầu hết các người tử đạo xưa kia chỉ là những nạn nhân bị lừa gạt mà thôi. Đối với những người này, chúng ta cần phải đối xử với lòng thương yêu chân thành trong tình nghĩa đồng bào. Chúng ta chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng của sự thật để xua đuổi bóng tối trong tinh thần của họ mà thôi. Họ đã và đang là nạn nhân bị các tu sĩ bòn rút tiền của. Đối với bọn tu sĩ lưu manh, họ chỉ là một bầy bò sữa để cho chúng vắt hầu vỗ béo thân xác và thỏa mãn các thứ dục vọng của chúng. Họ cũng là những nạn nhân của bọn chính trị lưu manh, lúc nào cũng lăm le biến họ thành những công cụ hoặc những vật hy sinh cho những mưu đồ đen tối của chúng. Trong thâm tâm của mỗi người chúng ta luôn luôn phải phân biệt rõ rệt bạn và thù, nạn nhân và thủ phạm. Mục đích tối hậu là diệt trừ mọi thứ kẻ ác để bảo vệ những người thiện lành. Nhất định đồng bào sẽ ủng hộ chúng ta và Ơn Trên sẽ phù hộ chúng ta.
 
2) Với nhận định như trên, chúng ta cần đem lại sự giáo dục tới tận các giáo dân bằng những bằng chứng sự thật được trình bày đơn giản, cụ thể và dễ hiểu. Không nên quá chú trọng đến các lý thuyết cao xa như thuyết Tạo Dựng, Thuyết Cứu Rỗi mà cần chú trọng đến các vấn đề thông thường được nêu trong các sách kinh nguyện (prayer books) mà nhà giáo dân nào cũng có và họ thường tụng niệm hằng ngày.
 
Thánh kinh thường được coi như những cuốn sách làm căn bản của đạo thì rất ít giáo dân đọc. Họ chỉ biết thánh kinh qua một số trích đoạn mà bọn cha cố đã lựa chọn kỹ càng để đem ra giảng thuyết mà thôi. Các cuốn sách dày như Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi chắc chắn chẳng có giáo dân bình thường nào đọc cả. Vậy nên cần xuất bản nhiều cuốn sách nhỏ đề cập đến những vấn đề thiết thực để khai sáng hơn là viết các sách đồ sộ khô khan hầu như không có tác dụng nào đối với đa số giáo dân.
 
3) Có những điều mà các trí thức ngoại giáo ít ai biết tới là:
 
a) Mỗi khi có một cuốn sách hay bài báo chống đạo xuất hiện, bọn cha cố công khai ngăn cấm giáo dân không được đọc. Nếu đọc là phải tội v.v... nên bọn chúng đã vô hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của các sách báo này.
 
b) Dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm và vô cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn những lối giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công Giáo lý hay giáo hội. Vì thế Công Giáo đã vượt qua mọi cuộc tấn công của khoa học và mọi cuộc chống phá của các phong trào soi sáng (Enlightenment) hay các phong trào giải trừ Kitô Giáo (Dischristianization) như hiện nay. Muốn biết các lập luận lươn lẹo này ra sao xin hãy đọc "Giáo Lý Mới –Thời Đại Mới" 157 trang do Đất Mẹ xuất bản và phát hành tại Houston năm 1996. Đọc cuốn sách Giáo Lý Mới này, quí vị sẽ phải khâm phục tài nghệ giải thích lươn lẹo của bộ tham mưu thần học của Vatican. Thí dụ: Thiên Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày cần được hiểu là 7 thời đại, [ Nếu nói 7 thời đại thì cây cỏ thảo mộc Chúa tạo ra trước mặt trời làm sao sống được vì không có diệp lục tố!]
 
mỗi thời đại kéo dài nhiều triệu năm! Giáo dân được mời gọi để bắt chước lòng trung thành tuyệt đối của Abraham đối với Thiên Chúa chứ không phải được mời gọi để bắt chước hành động của Ngài (loạn luân, giết con để tế Thiên Chúa). Kinh Tin Kính là bản liệt kê các giáo điều căn bản của đạo Công Giáo đã được Hội Nghị Nicaea chấp thuận năm 325 vẫn có thể được sửa đổi cho phù hợp với thời đại ngày nay (sách trích dẫn trang 160). Do đó, việc bài trừ hệ thống tu sĩ Công Giáo là một vấn đề ưu tiên cần thực hiện trước khi bắt tay vào việc giáo dục quần chúng.
 
Mọi người chúng ta đều biết rằng Chúa Jesus chỉ có một người mẹ duy nhất là đức Mẹ Maria. Nhưng chúng ta thấy người Công Giáo đã gọi Mẹ Maria bằng rất nhiều danh hiệu khác nhau. Nào là Đức Mẹ Đồng Trinh, Đức Mẹ Chúa Trời, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Mông Triệu, Đức Mẹ Mân Côi và Đức Mẹ sắp mang thêm một danh hiệu chính thức nữa là "Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc". Ngoài ra, chúng ta cũng nghe nói tới những vụ Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới như Lộ Đức (Pháp) Fatima (Bồ Đào Nha) La Vang (Việt Nam) và hàng trăm địa danh khác nữa không xiết. Mỗi một danh hiệu nói trên của Đức Mẹ đều có lịch sử của nó và đều đã gây ra nhiều hậu quả cho đời sống nhân loại và đời sống của giáo hội Kitô. Mỗi lần Vatican đưa ra một phép lạ của Đức Mẹ ở một nơi nào đó đều có dụng đích chính trị của họ. Vấn đề tôn thờ Đức Mẹ có cả một ngành nghiên cứu riêng gọi là Mariology hết sức phức tạp và hoàn toàn xa lạ đối với đại đa số đồng bào ta là những người ngoại giáo.
 
Đây là lý do thứ hai thúc đẩy tôi viết bài này nhằm trình bày khái lược về những vấn đề trên để quí vị độc giả ngoại giáo hiểu thêm về thực chất của giáo hội Công Giáo La Mã và cũng để từ đó có thể đoán biết được tương lai của giáo hội này sẽ đi về đâu. Sự mất còn của giáo hội Công Giáo với trên một tỷ tín đồ có liên hệ mật thiết với vận mệnh của nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam.