Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

Đó Là Lời Chúa!!!!!!

Những người "Kitô hữu" mỗi lúc cầu nguyện thường hay lập lại câu: "đó.. là.. lời... Chúa..." sau một câu hay một đoạn nào đó ở "Kinh Thánh".

Trước thời đại, những người chăn chiên và những con chiên sau khi chấp nhận và đọc Kinh Thánh thì quý vị có dám thực hiện những điều mà chính ngay "Kinh Thánh" Chúa đã dạy cho quý vị như sau đây hay không:

"- Phục Truyền luật lệ ký [Chương12, đoạn 2-7] dạy: Phải vằm nát và đốt tất cả những nơi thờ tự của những kẻ ngoại đạo, phá bỏ tất cả những ông Thần mà họ thờ…

- Thi Thiên [Psalm, 137: 9]: Phúc cho những ai bắt con trẻ của người Ba-bi-lon mà đập vào đá cho chết.

- 1 Samuel [15: 2-3]: Hãy đánh dân A-me-léc và phải giết mọi súc vật của chúng, nam nữ giết hết, con trẻ còn bú, bò, chiên, lạc đà phải giết hết.


- Nhất là cuốn Dân Số Ký, chương 31, tóm lược: Chúa Trời chỉ đạo cho ông Mai-sen (Moses) mộ binh chống dân Ma-đi-an. Quân của Mai-sen cướp vàng bạc, kim loại, bắt hằng trăm ngàn gia súc của dân Ma-đi-an đem về chia nhau. Đàn ông và trẻ thơ bị giết sạch hết. Nhưng 32 ngàn cô gái còn trinh bắt về làm quà cho các lính ra trận. Chúa Trời bảo ông Mai-sen nộp cho Chúa súc vật và 32 cô gái còn trinh” . [Theo “Kinh Cựu Ước (NGŨ THƯ), trang 453-457, do Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ thực hiện, Tòa Tổng Giám Mục Việt Nam chuẩn y”. Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội cấp giấy phép – 2010. Bán tại Nhà thờ đường Kỳ Đồng. TP.HCM. Tôi có mua một cuốn, giá 60 ngàn đồng].

Hành động của Chúa Trời như thế dễ bị hiểu lầm rằng, Ngài là đảng trưởng của một đảng cướp của giết người, đem súc vật và gái trinh về chia nhau. Trong đó, Chúa Trời cũng được một phần gồm 32 cô." (Nguyễn Sâm). ???

Nhân đấy, tôi, Trần Quang Diệu, xin hỏi rằng, nếu là "Kinh Thánh" như "- Phục Truyền luật lệ ký [Chương12, đoạn 2-7] dạy: Phải vằm nát và đốt tất cả những nơi thờ tự của những kẻ ngoại đạo, phá bỏ tất cả những ông Thần mà họ thờ…" như thế thì quý vị có thể nào làm được chuyện thực lòng thực dạ "Liên tôn" với một đạo giáo nào ngoài Kitô giáo hay không? Chao ôi! "Phải vằm nát và đốt tất cả những nơi thờ tự của những kẻ ngoại đạo, phá bỏ tất cả những ông Thần mà họ thờ…" ?

Ở đây, cũng xin gởi đến cho mấy ông "Liên tôn" để nhằm tỉnh táo nhìn vào mặt mũi nhau với bằng những đứa con cùng chung một bọc (đồng bào) chứ đừng có "làm theo lời Chúa" "vằm nát và đốt tất cả những nơi thờ tự của những kẻ ngoại đạo," (kể cả "đạo thờ ông bà" của dân tộc Việt Nam mà trước đây đám "con cái Chúa" đã từng đạp đổ, dẹp bỏ!) như Chúa đã dạy trong Kinh Thánh !

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Giê-su Bị Đóng Đinh Vì Các Tông Đồ Mang Khí Giới

Giê-su Bị Đóng Đinh Vì Các Tông Đồ Mang Khí Giới
(Jesus Was Crucified Because Disciples Were Armed, Bible Analysis Suggests.)
By Douglas Main
Người đàn bà cầu nguyện trước tượng Chúa Giê-su Ki-tô ở Vương Cung Thánh Đường Metropolitan, Managua, Nicaragua
Giê-su có lẽ bị đóng đinh vì những người theo ông đã mang theo khí giới. Đó là kết quả của một sự phân tích mang tính học thuật về những cuốn kinh Tân Ước.

GS Dale Martin
Dale Martin, giáo sư chuyên nghiên cứu về tôn giáo ở đại học Yale University, nói rằng cái góc cạnh này của các câu chuyện về Giê-su, như được viết trong kinh thánh, đã nhận được một sự chú ý quá khiêm tốn, nhưng chỉ riêng nó có thể giải thích sự hành hình Giê-su và cũng chứng minh rằng con người của thành Nazareth không phải là một kẻ ôn hòa như thường đã được trình bày.
Cả hai cuốn kinh của Mác-cô và Lu-ca đều xác nhận rằng có ít nhất một (có lẽ hai hoặc nhiều hơn) trong các kẻ theo Giê-su đã mang khí giới lúc Giê-su bị bắt ngay sau buổi ăn tối cuối cùng, vào thời gian lễ Vượt Qua của người Do Thái. Một ông tông đồ, Si-mon Phê-rô, còn đã xử dụng cây kiếm của ông để cắt đứt cái tai của một trong những kẻ tới bắt Giê-su, kinh của thánh Gio-An ghi.
Ảnh http://abcparish.blogspot.com/
Lối hành xử quân sự này gần như chắc chắn không thể được tha thứ bởi những người La-mã đang được lãnh đạo bởi quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Martin nói với báo Newsweek. Thí dụ, các văn kiện lịch sử chứng minh rằng, vào thời đó, việc mang khí giới ngoài đường ở thành phố Rô-ma và ở một số thành phố khác của người Rô-ma thì bị xem là vi luật. Mặc dù không còn giữ được một hồ sơ pháp lý nào về thành Giê-su-sa-lem, nhưng người ta có thể lý luận dựa trên kiến thức về lịch sử người Rô-ma, rằng những kẻ cai trị trong vùng sẽ không tán thành việc mang gươm giáo, và nhất là không thể tha thứ một băng đảng mang khí giới của người Do-Thái đi lang thang trong thành phố vào dịp lễ Vượt Qua, một ngày lễ thường gây nhiều hỗn loạn, Martin nói.
“Bởi vì bạn có thể bị bắt ở thành phố Rô-ma chỉ vì bạn mang một con dao găm, nếu những người theo Giê-su mang khí giới, đó đã đủ lý do để đóng đinh Giê-su,” Martin nói. Bài phân tích của Martin đã được đăng trong tháng này (tháng 9 năm 2014) ở tờ báo chuyên về nghiên cứu Kinh Tân Ước, tờ Journal for the Study of the New Testament.

Harold W. Attridge
Harold Attridge, cựu khoa trưởng phân khoa Thần Học ở Yale University, người không liên hệ gì với bài báo, đã nói với tờ Newsweek rằng, sự phân tích của Martin rất là thuyết phục và “có lẽ những người La-mã phải rất nghiêm khắc với ai được xem như có sự đe dọa về chính trị,” có thể chắc chắn là như vậy đối với trường hợp của Giê-su.
Học giả về kinh Tân Ước, Hal Taussig, người dạy ở Đại Chủng Viện Thần Học Union ở tiểu bang New York, nói: “Bài báo nhắc nhở chúng ta rằng những người theo Giê-su, và có lẽ cả Giê-su, không thể tránh khỏi bị đế quốc La Mã xem như theo chủ nghĩa khủng bố quốc gia. Những người La-mã thường thỉnh thoảng và cố tình dùng bạo lực đối với các dân tộc mà họ xâm chiếm, giết hằng chục ngàn người bằng cách đóng đinh họ.”
Bart Ehrman, giáo sư của Đại Học University of North Carolina, nói rằng bài báo của Martin còn trưng ra một câu hỏi quan trọng hơn: Tại sao những người theo Giê-su lại đeo khí giới như vậy, nhất là trong một dịp lễ tôn giáo?
Ông nói thêm rằng Martin đã trưng ra Giê-su và những người theo ông ta hồi đó có vẻ như kỳ vọng ngày tận thế sắp xảy ra đến nơi, một biến cố mà uy lực thần thánh (dưới dạng các thiên thần) sẽ phá hủy thành Rô-ma và đền Hê-rốt, và dẫn đến thời kỳ cai trị của thần thánh. Và có lẽ việc này đã đòi hỏi các ông tông đồ của Giê-su phải chiến đấu.
Có vẻ như không quá thuyết phục, nhưng còn có một kịch bản tương tự được ghi trong cuốn kinh Khải Huyền. Và kịch bản này về “thần lực kết hợp với nhân lực là một sự kỳ vọng trong phần chính yếu của cuốn Dead Sea Scrolls,” một nhóm những cuốn kinh đã trưng ra ánh sáng về lối suy nghĩ của những người Do Thái vào thời Giê-su, Martin nói.
Thực vậy, nhiều nhà hàn lâm nghiên cứu về tính lịch sử của kinh thánh tin rằng “Giê-su là một vị tiên tri Do Thái tin vào ngày tận thế, kỳ vọng ngày Chúa đến trần gian đang gần kề,” Martin nói.
Bài báo còn gợi ý thêm rằng Giê-su thuận theo sự tranh đấu bằng bạo lực, ít nhất ở trong trường hợp ngày tận thế này. Ehrman nói với Newsweek như vậy.
“Bài báo làm tôi phải suy nghĩ lại lối nhìn của tôi về Giê-su như một kẻ ôn hòa toàn vẹn,” ông nói. “Và còn cần nhiều thứ để cho tôi thay đổi các quan điểm của tôi về Giê-su.
Nhưng không phải tất cả mọi người cùng đồng quan điểm với Martin. Taussig nói: “Mặc dù bài báo là một sự đóng góp đặc biệt, nhưng nó không thể cho chúng ta biết được về nhiều điều mà Giáo sư Martin đã trình bày – liệu chúng có giá trị về lịch sử hay không.”
Việc thiết lập lịch sử mang tính trung thực từ phía sau của các cuốn kinh thánh là công việc mà tổ chức cung cấp các học bổng này đang làm, và đó không phải là việc dễ dàng, nên biết rằng kinh thánh đã được viết từ 40 đến 60 năm sau khi Giê-su đã chết, bởi những người không phải là chứng nhân trực tiếp. Và bạn có thể tưởng tượng còn có nhiều sự bất đồng giữa các học giả.
Peter (lower left) attacks the servant of the high priest as Jesus is arrested, by Hans Holbein the Younger
Peter (phía dưới bên trái) tấn công đầy tớ của thầy cả thượng phẩm khi Giêsu bị bắt. Tranh vẽ của họa sĩ Hans Holbein the Younger, thế kỷ 16
Paula Fredriksen, giáo sư về Thiên Chúa Giáo thời Trung cổ của đại họcHebrew University in Jerusalem nói rằng bài báo của Martin có nhiều lỗ hổng “mà bạn có thể lái những chiếc xe vận tải qua.”
Về một lỗ hổng, bà không nghĩ là hợp lý khi cho rằng, bởi vì mang vũ khí ở thành phố Rô-ma là vi luật thì cũng là vi luật ở thành phố Jerusalem. Sự kiểm soát thành phố vào thời đó không có quá khắt khe, bà lý luận, và quan tổng trấn Rô-ma chỉ viếng thăm trong thời gian lễ Vượt Qua. Và trong khoảng thời gian này, có lẽ không thể kiểm soát nỗi hằng ngàn người Do Thái đổ tràn trong thành phố Jerusalem.
“Tôi cũng không thể tưởng tượng nỗi một tình trạng hỗn độn như vậy vào lúc đó,” bà nói.
Hơn nữa, bà nói, chữ Hy Lạp dùng trong các cuốn kinh thánh mà Martin dịch là thanh gươm thì thực ra chỉ có ý nghĩa một thứ gì giống như con dao. Và những thứ này người ta có thể dễ dàng che giấu, bà nói thêm. “Chỉ những người chuyên môn,” chẳng hạn như lính, mới “đeo gươm giáo,” bà nói.
Nhưng bà thưởng thức lối lý luận của Martin, và đó là điều mà những nhà nghiên cứu lịch sử của cuốn kinh thánh làm. Sự tranh cãi không thể tránh và lối lý luận là “trò vui đùa,” Fredriksen nói. “Đó là trò thể thao có va chạm”.

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

"Truyền giáo qua hôn nhân của con cái"

Phát triển tín đồ là quyền của mọi tôn giáo, tổ chức tôn giáo. Tuy nhiên, phát triển tín đồ bằng hôn nhân, và ép buộc con trẻ sinh ra khi chưa có nhận thức về bản chất tôn giáo mà chúng sẽ theo đuổi?. Đó có phải là tự do tôn giáo hay cưỡng ép tôn giáo, phát triển tôn giáo qua thủ đoạn "hôn nhân" là vi phạm quyền tự do hôn nhân và tự do theo và không theo tôn giáo nào của bất kỳ công dân nào. TG & DT đăng lại bài viết trên Vietcatholic.org để bạn đọc tường minh về những "thủ đoạn" cải đạo kém văn minh của một tổ chức tôn giáo lớn nhất hành tinh.
Sáng chúa nhật 24.10, ngày Khánh nhật Truyền giáo. Tổng giáo phận Huế tổ chức gặp mặt các thành phần HĐGX theo từng Hạt. Riêng hạt Thành phố Huế được tổ chức tại giáo xứ Đức Mẹ Hằng cứu giúp ( Dòng Chúa Cứu thế Huế ).


Khai mạc với thánh lễ đồng tế sốt sắng và trang trọng, sau là chương trình gặp gỡ và thảo luận tại Nhà Mục vụ giáo xứ với sự tham dự của cha Chưởng ấn Antôn Dương Quỳnh cũng là quản xứ chính tòa Phủ Cam kiêm quản hạt thành phố Huế, cha G.B Lê Thanh Hoàng đặc trách Ban Truyền giáo, cha G.B. Nguyễn Minh Sang bề trên DCCT Huế, cha Emilianô Đổ Minh Liên dòng Thánh Tâm Huế và quý cha đặc trách giáo lý hạt thành phố Huế, với sự tham dự của gần 200 thành viên các HĐGX thuộc hạt thành phố.


Buổi gặp gở đồng thời thảo luận đề tài “Truyền giáo qua hôn nhân của con cái”. Đây là một đề tài nóng hổi mà đã xảy ra gây nhiều trăn trở trong các gia đình tại rất nhiều giáo xứ.


Mở đầu chương trình, cha Antôn Dương Quỳnh chia sẽ: “ Sau 3 năm cần mẫn rao giảng tin mừng nước trời cho lương dân. Trước khi về trời, Chúa Giêsu quy tụ các môn đệ và nói: “Các con hãy đi khắp nơi, loan truyền lời Chúa cho mọi loài thụ tạo. Này Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tân thế”. 


1/ Khi chọn các tông đồ,


Chúa Giếu nói: “Hãy đi theo Ta, Ta sẽ biến các con trở nên những kẻ chài lưới linh hồn người ta”. Khi dạy các tông đồ, Ngài nói: “Lúa chin đầy đồng, các con hãy xin chủ sai thợ đến gặt lúa”. Khi dạy về đàn chiên, Ngài nói: “Còn có những con chiên khác không thuộc đàn chiên này, ta cũng phải đưa chúng về, để chỉ có một đàn chiên và một chủ chăn”.


Giáo hội nhận ra rằng, mục đích của Chúa Giêsu thành lập Giáo hội là để giáo hội tiếp tục rao giảng Tin mừng của Ngài.


2/Bản chất của giáo hội là Truyền giáo: 


Nếu không truyền giáo, giáo hội sẽ mất lý do tồn tại trên thế gian này. Một giáo hội không phát triển có nghĩa là giáo hội ấy đang chết.

Ý thức được mệnh lệnh quan trọng ấy của Chúa Giêsu, giáo hội đã nhiệt tâm truyền giáo bằng nhiều hình thức khác nhau:

- Hình thức Thừa sai: gởi tín hữu đến một vùng, chung sống và hòa nhập với người bản địa. Sử dụng tiếng nói của họ để loan báo Tin mừng.

- Hình thức truyền giáo bằng việc rao giảng tin mừng cho một khu dân cư, thành lập giáo đoàn. Sau đó tiếp tục đi nơi khác.

- Hình thức mở trường học, trạm y tế, bệnh việnđể giới thiệu lòng nhân ái của Chúa đối với lương dân.

- Hình thức truyền giáo qua văn chương, báo chí, truyền hình.

- Truyền giáo bằng cách vào nhà lương dân thăm hỏi người già, người ốm đau già cả cô đơn. Chia sẽ cảnh tang sầu, chia vui với những thành đạt.



3/Triển khai việc truyền giáo qua hôn nhân của con cái:


Tổ chức hôn phối cho con cái, dự hôn phối của con cháu hoặc đi ăn cưới của bạn bè lương dân là một cơ hội để truyền giáo.

Khi có những người lương xin phép chuẩn hôn phối ai giữ đạo nấy. Phải có những lời hứa từ cả hai bên:

Bên không công giáo phải tuyên hứa:

- Tôi tự do ưng thuận kết hôn với …

- Tôi chấp nhận hôn nhân một vợ một chồng.

- Tôi chấp nhận hôn nhân không thể phân ly.

- Tôi sẽ tôn trọng tín ngưỡng bên công giáo.

- Tôi chấp nhận sinh sản con cái và dạy dổ con cái nên người.

- Tôi biết rõ bên công giáo hứa sẽ cố gắng hết sức để con cái tôi được rửa tội và được giáo dục trong giáo hội công giáo.

Bên công giáo tuyên hứa:

- Tôi tự do ưng thuận kết hôn với…

- Tôi chấp nhận hôn nhân một vợ một chồng.

- Tôi chấp nhận hôn nhân không thể phân ly.

- Tôi sẽ trung thành với đức tin công giáo toàn vẹn như Hội Thánh công giáo dạy.

- Tôi sẽ tôn trọng tín ngưỡng của bên không công giáo.

- Tôi chấp nhận sinh sản con cái và giáo dục con cái nên người.

- Tôi sẽ cố gắng hết sức để con cái tôi được rửa tội và được giáo dục trong giáo hội công giáo.

Linh mục có thẩm quyền phải giải thích lời tuyên bố này và phải nghe đương sự tuyên bố.


Chính vì điều này mà bên công giáo kể cả cha mẹ, bà con và chính bản thân người sắp thành hôn, và cả linh mục chính xứ phải rao giảng Tin mừng cho bên lương.


Cha Bênêđictô Ngô Văn Hài đặc trách giáo lý dự tòng hạt thành phố Huế giới thiệu về bốn đề tài thảo luận:

1/ Khi đi ăn đám cưới bên lương, ta nên làm gì ( tác phong, nói năng…)để giới thiệu đạo công giáo cho người lương?

2/ Khi người lương đến nhà thờ dự lễ hôn phối ( của bạn bè, bà con công giáo) ta nên làm gì để giới thiệu đạo công giáo cho họ?


3/ Nếu thấy con cháu mình quen thân với người lương, ta phải nói gì cho con cháu ta và phải tiếp xúc với người bạn lương của con cháu như thế nào để giới thiệu đạo công giáo cho người lương đó?


4/ Đối với một giáo dân được phép chuẩn để lấy người lương, ta phải làm gì đối với đôi vợ chồng này để truyền giáo cho họ?



Toàn thể mọi thành viên tham dự được chia thành 7 nhóm để trao đổi và thảo luận theo từng đề tài, bầu khí thật sôi nổi và nghiêm túc. Sau đó sẽ cử đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình trước cộng đoàn. Hầu hết các nhóm đều có chung những quan điểm như:


- Phải đối xử chan hòa với con cái của những người được phép chuẩn hôn phối, phải sống gương mẫu và siêng năng cầu nguyện cho họ. Phải chứng tỏ cho họ biết không phải theo đạo là bỏ ông bà tổ tiên như họ từng nghĩ.


- Khi đi dự đám cưới bên lương, trước khi ăn ta nên làm dấu thánh giá.

- Cha đặc trách Ban Truyền giáo G.B. Lê Thanh Hoàng nêu ý kiến: nên có những buổi gặp gở với những gia đình trở lại trong hôn nhân hoặc những gia đình chuẩn hôn phối. Khi có những trường hợp con cái chuẩn bị cưới người lương nên báo cho cha sở biết ít nhất là 4 tháng trước khi tổ chức.


- Cha Emilianô Đổ Minh Liên cho rằng các hội đoàn nên có những buổi thăm nom và động viên chân tình.


Trước khi kết thúc buổi gặp mặt và thảo luận, ông Matthêô Nguyễn Đình Lục chủ tịch HĐGX chính tòa Phủ Cam, thay mặt toàn thể thành viên các HĐGX hạt thành phố Huế nói lời cảm ơn Tòa Tổng Giám mục, cha hạt trưởng, cha đặc trách Ban Truyền giáo và quý cha đã quan tâm đến những ưu tư và băn khoăn của giáo dân, tằ dó tổ chức buổi gặp mặt và trao đổi, thảo những đề tài đang được nhiều người quan tâm.


Bế mạc ngày Khánh nhật truyền giáo, cũng là ngày thảo luận những đề tài sốt dẻo nêu trên, vì thời gian có hạn nên cha quản hạt mời gọi những ý kiến của thành viên sẽ gởi về cho ngài. Tất cả mọi ý kiến đều sẽ được nghiên cứu và in thành tập để gởi đến mọi thành viên tham dự hôm nay. Ngài đã ban phép lành trước khi ra về. Mọi người đều cảm thấy phần nào giải tỏa được một số ưu tư từ lâu nay.

Trương Trí10/24/2010/vietcatholic.org


TG & DT: Phát triển tín đồ là quyền của mọi tôn giáo, tổ chức tôn giáo. Tuy nhiên, phát triển tín đồ bằng hôn nhân, và ép buộc con trẻ sinh ra khi chưa có nhận thức về bản chất tôn giáo mà chúng sẽ theo đuổi?. Đó có phải là tự do tôn giáo hay cưỡng ép tôn giáo, phát triển tôn giáo qua thủ đoạn "hôn nhân" là vi phạm quyền tự do hôn nhân và tự do theo và không theo tôn giáo nào của bất kỳ công dân nào. 

CẢI ĐẠO, MỘT BIẾN TƯỚNG CỦA SỰ CUỒNG TÍN TÔN GIÁO

Tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác chính là tôn trọng mình. Ai đem sự tôn trọng đi thì nhận lại sự tôn trọng. Đó là định luật nhân quả.
Người viết xin được mở đầu câu chuyện trong tuần kỳ này bằng câu thành ngữ “Cáo mượn oai hùm” thường ngụ ý để chỉ cho những người ưa lòe bịp, hù dọa mọi người bằng quyền uy của người khác để tự tung tự tác. Chuyện kể, có một con hùm đói bụng đang tìm cách săn mồi thì gặp ngay một con cáo. Cáo thấy nguy bèn nói: “Này anh hùm, anh đừng có ý định ăn thịt tôi. Trời đã giao cho tôi làm chúa tể muôn loài. Anh mà ăn tôi là làm trái ý của trời! Không tin, tôi đi đằng trước, anh đi đằng sau, thử hỏi có con vật nào trông thấy tôi mà không sợ?”. Quả nhiên, khi cả hai cùng bước đi, mọi vật nhìn thấy đều chạy tán loạn. Con cáo lấy uy của trời để lừa hùm, rồi lại mượn hình ảnh của hùm để dương dương tự đắc với những loài vật khác.

Trong kinh Trường Bộ thuộc tạng Pali cũng ghi lại câu chuyện giữa Đức Phật và hiền giả Pàtikaputta về đề tài thú vị này. Đức Phật nói: “Này Hiền giả Pàtikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Con chó rừng ấy suy nghĩ: “Ta là ai, và con sư tử - vua các loài thú là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi lại trở về sào huyệt”.
“Này Hiền giả, con chó rừng kia y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng. Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng ấy với tiếng rống của con sư tử?”.
Cả hai câu chuyện trên đều nhắm đến chuyện ảo tưởng mình là chủ sở hữu, mượn uy danh người khác để “làm giả ăn thật”. Người viết tạm dẫn ra hai câu chuyện trên để đi thẳng vào vấn đề có thực, đang diễn ra trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo tại Việt Nam.
Trong những ngày gần đây, một số diễn đàn sinh hoạt Phật giáo bỗng “nóng” lên bởi “Tuyên ngôn thuộc linh” của một nhóm Tin lành. Tuyên ngôn này xuất hiện vào mùa Giáng sinh năm 2009 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, thủ đô Hà Nội, với sự chứng kiến của hàng chục ngàn người. Một phần nội dung của “tuyên ngôn” đó như sau:“Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đã bị tuyên bố cắt đứt, hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không còn tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước, Hội thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp một khắn khít trước mặt Đức Chúa Trời...”. Điều đáng nói, tuyên ngôn trên được viết bởi cơn phấn hưng “Nếu Phải Chết Thì Sẽ Chết!”.
caidao-02-content
Ảnh: Hoithanh.com
Ai cũng rõ một điều, đất nước nào cũng có người quản trị, có luật pháp để duy trì sự công bằng. Văn hóa là phần hồn, là tinh anh, là nền tảng cho mọi phát triển khác. Mọi giá trị tạo nên hình ảnh của một dân tộc đều thấm đẫm mồ hôi, công sức, máu và nước mắt của biết bao thế hệ. Văn minh đến từ khối óc sáng tạo và bàn tay lao động. Giá trị của lao động chính là việc khẳng định lao động tạo ra giá trị, phẩm tính cho con người của dân tộc ấy. Chẳng có kẻ nào ngồi không ăn sẵn mà được tôn vinh, và không ai có thể dâng những thứ không thuộc, hay chưa thuộc về mình cho người khác, trừ phi những người sống bằng thói quen của loài cáo như câu chuyện kể trên.
Tôn giáo luôn khích lệ con người sống để hoàn thiện ứng xử cho bản thân mình với cộng đồng và không hề chủ trương sự chia rẽ bạo tàn. Một đất nước từng chịu nhiều cuộc chiến tranh xâm lược như Việt Nam luôn luôn nhạy cảm với danh xưng phản bội Tổ quốc, triệt tiêu và hủy diệt văn hóa, dù là vì ai và vì mục đích gì, dù có văn tự hay không có văn tự. Bởi cái gì nô lệ thì thường hướng đến sự ngoại thuộc, và ngược lại cái gì ngoại thuộc thì đem đến thái độ nô lệ, dù đó là nô lệ thế quyền hay thần quyền. Cái đầu nô lệ trước rồi đến cánh tay, con mắt và cái chân, vì vậy họ “muốn chết”, “quyết chết” cũng chỉ vì cái đầu đã đánh mất tự chủ. Một người đánh mất tự chủ thì vong thân, nô lệ cho niềm tin mù quáng. Một người đã trở thành nô lệ thì chẳng có tài sản gì khác để bán, ngoài việc ‘bán mạng” hay phải bám vào một cơ thể khác để sống. Vậy nên, giá trị mà họ tạo ra cho cộng đồng thấp hơn nhiều những ảo tưởng đang ngự trong đầu óc của họ. Kiếm lời bằng vật chất thì họ không đủ dũng mãnh như loài sư tử, nhưng dọn dẹp những thức ăn dư thừa mà loài sư tử để lại thì họ có thế mạnh.
Quyết tâm cho một “mùa gặt” năng suất là việc làm chính đáng. Nhưng “mùa gặt” chỉ tới khi trước đó người ta biết chăm chỉ gieo trồng và lao động một cách chân chính. Đất chẳng bao giờ phụ người có công, nhưng người lương thiện thì không bao giờ gặt trên cánh đồng mà mình không bỏ sức ra gieo trồng hay bảo vệ. Thái độ ăn mót nhưng ngạo mạn như loài cáo trong câu chuyện kia, nếu chẳng phải là sang chấn tâm lý của bản chất yếu đuối nhưng ảo tưởng vĩ cuồng thì cũng là biểu hiện sự phi nghĩa núp dưới đức tin tôn giáo.
Sự đổi thay trong nhận thức, tư tưởng của con người khi thì bình lặng, khi thì ồn ào, đó là điều tự nhiên giữa những người theo đuổi niềm tin tôn giáo, tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình cải đạo, rất nhiều máu và nước mắt của con người đã đổ xuống mà vẫn chưa có bài học nhân văn nào được rút ra. Hiện nay, thế giới vẫn xếp xung đột tôn giáo, sắc tộc vào những xung đột hàng đầu, gây bất ổn lớn đối với loài người. Thực tế hiển nhiên này khác xa với quan niệm tôn giáo là thánh thiện, phần còn lại của thế giới thuộc về tội lỗi.
caidao-03Ảnh: Hoithanh.com
Một mặt họ cho rằng mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, mặt khác họ lại tìm đủ mọi cách như dụ dỗ tiền bạc, hay dùng hôn nhân để cưỡng bức, ép buộc để “cải đạo” người khác, thậm chí cuồng tín như “tuyên ngôn” trên dù phải chết. Do đó, việc cải đạo thường gây nên những diễn biến phức tạp trong đời sống xã hội.
Một niềm tin tôn giáo thuần khiết thì chẳng bao giờ ồn ào với những ngôn ngữ đầy tính kích động, gây hấn thù hằn dân tộc như vậy cả. Truyền thống Ki-tô giáo là sự khiêm cung và tìm đạo là một quá trình khổ luyện để đạt đến tình thương vô bờ bến đối với tha nhân. Với “tuyên ngôn” kia, người viết chỉ xem nó nhuốm màu sắc chính trị mà còn thể hiện một sự lạc đường trong nhận thức, khi cả thế giới đang cổ vũ cho những giá trị hòa hợp và hòa giải.
Mỗi người đều có quyền cổ xúy cho tư tưởng, niềm tin tôn giáo mà mình đang theo, và việc mỗi người tự nguyện hướng đến một niềm tin chân chính để tìm an vui thực sự cho chính mình và tha nhân cũng là điều đáng tôn trọng, khuyến khích, giống như mỗi người thích ăn một vị khác nhau. Nhưng mỗi khi đứng trước một lựa chọn và quyết tâm theo đuổi con đường ấy, thật không dễ dàng gì để họ có ngay được sự bình an, vững chãi. Vì thế, các cuộc cách mạng tư tưởng của nhân loại đều không gì khác hơn là phô bày sự ưu việt trong cách lý giải, tiếp cận cuộc sống của mình, từ đó xây dựng những nhân cách tôn giáo mà giá trị yêu thương, hòa giải luôn đứng ở vị trí hàng đầu. Nói đến đạo đức Ki-tô là lòng bác ái, nói đến đạo đức Phật giáo là tâm từ - bi - hỷ - xả. Nội chỉ theo đuổi với những suy nghĩ, lời nói và hành động như vậy đối với một người theo tôn giáo đã là điều không phải một sớm một chiều có thể thực hiện được.
“Tuyên ngôn thuộc linh” với nội dung trích dẫn trên, theo người viết, đã vượt tầm so với nhận thức của một tín đồ bình thường, chỉ ra sự vọng động cuồng si hơn là đạo đức của đức tin (theo nghĩa bình thường nhất là tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác). Tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác chính là tôn trọng mình. Ai đem sự tôn trọng đi thì nhận lại sự tôn trọng. Đó là định luật nhân quả.
Người viết xin dừng lời bằng câu trả lời trên Tuần báo Le Point (Pháp) của Đức Đạt lai Lạt ma về vấn đề cải đạo, hiện tượng không chỉ có ở Việt Nam: “Như thế thật không hợp lý: thế giới phải ngày càng cởi mở hơn. Quý vị thi hành việc cải đạo, đấy là một hình thức chiến tranh chống lại các dân tộc khác và các nền văn hóa khác không giống với dân tộc và văn hóa của quý vị. Như thế không đúng với thông điệp của Đức Chúa Trời!”.
------------------
(*) Trang bìa của cuốn “Peoples of the Buddhist World: A Christian Prayer Guide" [Các dân tộc của thế giới Phật giáo: Một cẩm nang cho Người cầu kinh Thiên Chúa giáo] do Paul Hattaway viết. Cuốn sách dày 416 trang ruột với trên 150 hình màu tuyệt đẹp nầy là một công cụ truyền đạo của các nhóm Tin Lành trong nỗ lực cải đạo người Á châu, đặc biệt người Á châu theo đạo Phật.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Xin vui lòng tôn trọng tôn giáo

Xin vui lòng tôn trọng tôn giáo. 

Tôi nghĩ CHÚA không có sai , mặc dù trong KINH THÁNH đầy dẫy sai lầm .
Qúy vị biết trong CỰU ƯỚC , lời CHÚA vọng xuống trần gian có lẽ vào lúc mưa to gió lớn , nên bị át đi làm các ngôn sứ chép lại bị lộn . Còn TÂN ƯỚC thì CHÚA JESUS và các THÁNH chỉ biết có tiếng DO THÁI , nhưng toàn bộ sách này lại viết bằng tiếng HY LẠP . 

Người ta thường nói : THÁNH NHÂN DỊ CHÚNG NHÂN 
nghĩa là các THÁNH làm gì cũng khác với người thường . 
Cho nên khi CHÚA JESUS nói một đường bằng tiếng DO THÁI, các THÁNH ghi lại một nẻo bằng tiếng ngoại quốc cho có vẻ khác người. Nói tiếng này mà ghi lại bằng tiếng kia trong khi mình không biết thì làm sao không tránh khỏi sai lầm . 

Cho nên muốn đọc và hiểu KINH THÁNH thì những gì CHÚA nói sai phải hiểu theo nghĩa bóng, còn những gì CHÚA nói đúng phải hiểu theo nghĩa đen . Chớ THIÊN CHÚA đâu có ngu mà nói bậy.

Tôi mong từ nay về sau các mục sư , linh mục nên theo điều này để giảng giải cho tín đồ , chớ đừng cho rằng những gì CHÚA nói sai là thuộc về huyền nhiệm . 
Đã tu hành thì đừng có XẠO . Sai thì nói sai nếu không chấp nhận thì dẹp cha đi lường gạt thiên hạ hơn 2000 năm nay đủ rồi 

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

ĐỂ ÁP CHẾ NGƯỜI DA ĐEN, TÍN ĐỒ CƠ ĐỐC GIÁO DA TRẮNG ĐÃ SỬ DỤNG KINH THÁNH VÀ LÁ CỜ LIÊN MINH RA SAO?

ĐỂ ÁP CHẾ NGƯỜI DA ĐEN,
TÍN ĐỒ CƠ  ĐỐC GIÁO DA TRẮNG ĐÃ S DỤNG
KINH THÁNH VÀ LÁ CỜ LIÊN MINH RA SAO?

Carol Kuruvilla / The Huffington Post


Vào ngày 4 tháng giêng, năm 1861, Giám Mục Công giáo A.Verot bước lên tòa giảng trong nhà thờ Thánh Augustine, thuộc bang Florida, để bênh vực người da trắng đượcquyền có nô lệ.
Trong bài giảng, Giám Mục Verot nóí rằng thánh Tông đồ Phao Lồ đã dạy dân nô lệ phải tuân phục chủ nhân ông “như một phương cách cần thiết” để được cứu rỗi. Ngài đã dẫn chứng thánh thư đoạn Colossians 3:22. Ngài nói, Hỡi các tên nô lệ, phải tuân phục ông chủ các ngươi bằng chính xương thịt, chứ không chỉ qua loa để làm vửa lòng, phải [phục vụ] với tất cả tấm lòng, và phải biết kính sợ Thượng Đế.”  

Không còn phải che đậy nữa, hàng trăm vị Mục sư Cơ đốc giáo cũng đã dùng cùng một luận cứ như Giám Mục Vernot, đã áp dụng Kinh Thánh nhằm biện minh cho chế độ nô lệ trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc tại Mỹ. Nhưng cuộc thảm sát 9 đồng bào da đentrong tuần qua tại nhà thờ Emanuel Atrican Methodist Episcopal thuộc thị xã Cherleston, bang South Carolina [Hoa Kỳ], lại một lần nữa, buộc người da trắng Mỹ phải xét lại mối liên hệ lịch sử giữa Hội thánh da trắng với chủ nghĩa kỹ thị chủng tộc - và vì sao luận điệu hùng hồn đầy hận thù như lời giảng của Vernot nhờ phát ra từ toà giảng lại có sức lôi cuốn như vậy.  

Theo giáo sư Stout, vốn đang dạy Lịch sử Tôn giáo Mỹ tại đại học Yale, thì những ngườiCơ đốc giáo miền Nam không những chỉ ủng hộ chế độ nô lệ mà chính Giáo hội Cơ đốc giáo Miền Nam là trụ cột của Liên Minh và họ cố kìm những người Mỹ gốc Phi châu trong vòng nô lệ. Vị giáo sư này đã tuyên bố với báo Huffington rằng Nếu tách Hội thánh ra khỏi bài toán [lịch sử lúc đó] ắt chúng ta đã không có nội chiến. Các giáo sĩ Miền Nam đã tin chắc rằng chế độ nô lệ không phải là tội lỗi.

Sau khi thua trận, những người da trắng Miền Nam và các vị lãnh đạo tôn giáo đã cố làm mới bộ mặt Hội thánh bằng cách níu kéo một mối đạo không còn chính nghiã - lập luận rằng Miền Nam đã chiến đấu có chính nghĩa vì họ không nhằm kìm kẹp dân nô lệ,  vì quyền lợi của Liên Minh, hay  tự vệ chống trả bọn xâm lược Phương Bắc. Họ bắt đầu tôn sùng các anh hùng liệt sĩ Liên Minh và trân qúi lá cờ của mình.

Tuy nhiên, khi mà lá cờ Liên Minh vẫn phấp phới trong khu hành chánh thủ đô bang South Carolina, thì nó vẫn còn là biểu tướng phân biệt chủng tộc đáng lên án 

Các nhà vận động da đen cùng nhiều người khác coi đó như biểu tượng của áp chế và là một nhắc nhở về một chính quyền chỉ muốn kìm hãm mãi mãi dân da đen trong vòng nô lệ. Trong bài viết đăng trên báo Atlantic, tác giả T-Nehisi Coates gọi lá cờ của Liên Minh là  “biểu tượng sự thống tri của dân da trắng

Những người bênh vực lá cờ Liên Minh thường viện lý rằng nó tượng trưng cho ‘một di sản chứ đâu phải là sự thù hận.’ Tôi đồng ý như vậy  đó là di sản lấn át của người da trắng không phải bắt đầu bởi sự thù hận mà là động cơ dẫn tới cướp bóc.
Lập luận hùng hồn về quyền-uy-da-trắng-được-Chúa-tán-đồng nầy lại được lập đi lập lại tại các thánh đường ở khắp Miền Nam.

Trong khi Thiên Chúa bị loại ra khỏi đoạn mở đầu của hiến pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, thì  các nhà lãnh đạo của Liên Minh Miền Nam lại cố tình gợi lại quyền uy củaThiên Chúa này trong hiến pháp của họ. Thật rõ ràng là ngay từ khởi thủy họ đã coi Cơ đốc giáo là một thành tố của liên minh nhằm duy tri chế độ nô lệ.

Các vị lãnh đạo Cơ đốc giáo miền Nam muốn nhắc lại sự hiện hữu của chế độ nô lệ trong kinh Cựu Ước cùng các thánh ngôn của thánh Tông Đồ Phao Lồ nhầm dạy dỗ những kẻ nô lệ phải biết vâng lời các chủ nhân ông. Giáo sư Sout cho biết trong khi một số mục sư cho rằng chế độ nô lệ là một tội lỗi cần thiết thì nhiều vị khác còn đi xa hơn khi nói rằng dân da đen sẽ còn tiếp tục làm nô lệ trên thiên đường. Họ đã truy cứu ngược lại cơ sở thần học về sự tích ông Nôê (Noah) và người con tên Ham vì cho rằng đã chế diễu cha hắn mà bị đày xuống trần gian làm nô lệ.

Sau cuộc nội chiến, Hội thánh đã lên tiếng quá chậm chạp chống lại tệ phân biệt chủng tộc, và phải cho tới sau khi có phòng trào vận động nhân quyền, tệ nạn kỳ thi chủng tộc mới từ từ biến khỏi các tòa giảng tại Miền Nam.

Năm 1845, Hội Nghị Bắp-Tít miền Nam đã tách ra vì hội thánh Bắp-Tít miền Bắc từ chối không cho các chủ nô lệ đượtrở thành các nhà truyền giáo. Ngày nay, chi phái Tin Lành lớn nhất Hoa Kỳ là Hội thánh SBC (Hội thánh Bắp-Tít Miền Namđã dành nhiều thời gian để xét lại quá khứ của mình. Năm 1995, Hội thánh đã thông qua một nghị quyết chính thức xin lỗi vì đã ủng h cũng như đã vinh danh cá nhân và cơ chế kỳ thị chủng tộc trong cuộc đời chúng ta.

Qua những cuộc thảm sát tai Charleston, ông Russel Moore, chủ tịch Ủy Ban Đạo Đức và Tự do Tôn giáo của Hội Thánh Cơ đốc Miền Nam, đã kêu gọi tín hữu Cơ đốc giáomiền Nam hãy từ bỏ mối quan hệ văn hóa với lá cờ Liên Minh.

Tuần qua, ông Moore viết trong một bài bình luận rằng “Lá cờ chiến đấu của Liên Minh là tượng trưng cho Jim Crow, người giám thách thức phong trào nhân quyền, cũng nhưcủa Dixiecrat, người chống lại sự hoà hợp các sắc dân, và của sự khủng bố trong nước thuộc nhóm Ku Klux Klan và Hội Đồng Công Dân Da Trắng trong lich sử cận đại quá khủng khiếp của chúng ta. Những người Cơ đốc giáo da trắng phải suy xét là lá cờ kia đã nói gì với anh chị em da đen trước Thiên Chúa, nhất là sau hành động của bọn khủng bố da trắng chống lại những anh chị em da đen” .