Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Hé lộ phiên bản bí ẩn của quỷ Satan

Quỷ Satan - một con quỷ có sừng đại diện cho mọi điều tội lỗi của thế giới - là một hình tượng khá quen thuộc trong văn hóa hiện đại. Nhưng ít ai biết rằng Satan còn có một phiên bản khác là Baphomet, một vị thần cổ xưa.

  Lịch sử của hình tượng Baphomet gắn liền với tổ chức Hiệp sĩ Templar, hình thành từ cuối thể kỷ 11. Tổ chức này gồm những hiệp sĩ được tạo ra để bảo vệ tài liệu mật của một tu viện kín trong đó có cất giữ những bí mật về chúa Christ Jesu.

  Do sự nguy hiểm của của những tài liệu này, Giáo hội ở châu Âu đã tìm cách để loại bỏ Hiệp sĩ Templar, và thần Baphomet chính là cái cớ để thực hiện điều này.

  Baphomet vốn là một vị thần được Hiệp sĩ Templar thờ phụng. Vị thần này mang ý nghĩa tượng trưng cho sự phồn thực, gắn với sức mạnh sáng tạo trong sinh sản.

  Baphomet được mô tả với một thân hình của con người, có thể là nam hoặc nữ, với đầu dê và đôi chân dê đang khoanh tròn. Đầu của Baphomet khi cách điệu tạo thành một ngôi sao lộn ngược, biểu tượng của sự sáng tạo. Ngôi sao này cũng thường được vẽ trên trán của Baphomet.

  Các Hiệp sĩ Templar thường tiến hành nghi lễ với thần Baphomet nhằm tôn vinh sự hợp nhất giới tính tự nhiên và sự sáng tạo của vũ trụ.

  Tuy nhiên, Giáo hội chính thống đã lấy cớ những Hiệp sĩ Templar thờ một vị thần ngoại đạo là Baphomet để chống lại tổ chức này.

  Các nhà thần học của Giáo hội đã thuyết phục mọi người rằng Baphomet trên thực tế là hiện thân của quỷ Satan, với cặp sừng nhọn, nhằm gây sức ép kết tội các hiệp sĩ, khiến họ phải giao nộp ra những tài liệu mật mà mình đang bảo vệ.

  Theo thời gian thần Baphomet đã trở thành biểu tượng của sự tôn thờ Satan, bị nhà thờ ruồng bỏ.

  Ngày nay Baphomet là một hình tượng phổ biến trên phim ảnh, âm nhạc (đặc biệt là nhạc rock) với ý nghĩa của sự phản kháng về tinh thần.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

CÂY THẬP GIÁ TRONG KI-TÔ GIÁO

Trong thời điểm này, tôi nghĩ một cuộc nghiên cứu về cây “thập ác” và “nhân vật Mary” trong Ki Tô Giáo là điều cần thiết để mở mang sự hiểu biết của người dân Việt Nam về một tôn giáo rất cuồng tín chiếm 6-7% dân số. Bài viết này là về cây “Thập Ác.” Nhân vật Mary sẽ được viết trong một bài khác.
Trước hết, tôi xin giải thích là tại sao tôi gọi cây “thánh giá” của Ca-Tô Giáo Rô-ma là cây Thập Ác. Nếu chúng ta đọc lịch sử Ki-Tô Giáo thì chúng ta phải biết rằng, giáo dân Ca-Tô, theo lời khích động của giáo hoàng trong thời Trung Cổ, đã vác cây Thập Ác này đi giết người, gồm cả già trẻ lớn bé, trong 9 cuộc Thập Ác Chinh mà họ gọi là “thánh chiến”. Cây Thập Ác cũng được các linh mục dùng làm biểu tượng cứu vớt linh hồn trong các cuộc tra tấn dã man những người mà họ cho là lạc đạo. Cây Thập Ác cũng được dùng trong những cuộc thiêu sống phù thủy, giơ lên trước mặt nạn nhân làm biểu tượng cứu vớt linh hồn của họ, vì ngọn lửa thường không nóng bằng những ngọn lửa vĩnh hằng của Chúa Giê-su dưới hỏa ngục. Ở tân thế giới (Mỹ) thổ dân không chịu cải đạo cũng bị thiêu sống trước cây Thập Ác. Giết người cho một Thiên Chúa, theo lời dạy của chính Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đó thực chất là một quỷ dữ, không phải là một Thiên Chúa. Giết người vì một biểu tượng thì biểu tượng đó không thể nào có thuộc tính “thánh” được. Một học giả nghiên cứu cổ sử Do Thái đã viết “Cây thập ác là biểu tượng của một cách hành hình man rợ, không phải là biểu tượng của cứu rỗi” [The cross is a symbol of barbarous torture, not salvation].
Thật vậy, cái giá bằng gỗ hình chữ thập mà Giê-su bị đóng đinh trên đó không phải là “thánh giá” như người Ca-tô Việt Nam thường dùng, cho rằng để vinh danh Chúa của họ. Bởi vì, hình phạt đóng đinh trên giá gỗ hình chữ thập là một cực hình của đế quốc La Mã dành cho những kẻ nô lệ phạm tội, trộm cắp, giết người, phản loạn v..v.. Thánh Kinh viết rõ, (Luke 23: 32,33; Matthew 27: 38)) Giê-su bị xử đóng đinh trên giá gỗ hình chữ thập cùng lượt với hai tên tội phạm, trộm cướp (criminals, robbers) khác.
Không có lý do gì để chúng ta tin rằng cái giá gỗ mà Giê-su bị đóng đinh trên đó khác với những giá gỗ cùng loại trong thời đó. Bản văn bằng tiếng Anh viết là Giê-su “was crucified” chứ không phải là “was nailed on the holy cross”. Mà “crucify” trong tự điển có nghĩa là: 1. Xử tử hình bằng cách đóng đinh hoặc trói trên một giá hình chữ thập (To put to death by nailing or binding to a cross); 2. Đối xử một cách độc ác, hành hạ (To treat cruelly; torment). Cho nên, chẳng có gì có thể gọi là “thánh” ở đây cả. Ca Tô Giáo đã thêm vào từ “holy” để thánh hóa một vật thuộc một cực hình tàn nhẫn và dã man nhất của nhân loại. Người ta đã tôn sùng một biểu tượng của sự tàn ác, cố tình quên đi sự khủng khiếp kết hợp với cây thập giá. Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn nói về cực hình này của Russell Shorto trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm:
Được đưa vào nghệ thuật Ki Tô qua nhiều thế kỷ, cực hình đóng đinh trên thập giá đã trở thành một kiểu trình bày ước lệ cao - đến độ như là một vật đẹp đẽ, làm cho ta khó mà có thể tưởng tượng được sự khủng khiếp thực sự của nó. Nhưng thực tế là một cái gì khác hẳn. Trước hết, chúng ta hãy xét đến ý nghĩa khủng khiếp của nó trong một xã hội mà nhân phẩm - ngay cả nhân phẩm của một nông dân - là đức tính cao nhất. Mang ra nơi công cộng - kết tội, phơi trần truồng (Nghệ thuật Ki Tô thường đóng thêm cái khố vào cho Giê-su trên thập giá. TCN) và chết dần trong hấp hối - là hình phạt dã man hơn sự hành quyết nhiều. Rồi có cả sự tra tấn. Thường là nạn nhân bị trói vào cột rồi bị quất, hoặc bằng một cây roi ngắn gồm có nhiều sợi dây da trên có đính những hạt bằng chì hay những mẩu xương, hoặc bằng gậy. Nạn nhân thường bị đóng lên giá hình chữ thập ở ngay dưới đất rồi giá được dựng thẳng đứng lên. Đinh thường được đóng qua bàn tay hay cổ tay và bàn chân..
[Russell Shorto, Gospel’s Truth, p. 198: Over centuries of incorporation into Christian art, crucifixion has become highly stylized - a thing of beauty, even - that it is difficult to imagine the true horror of it.. But the reality was something else. Consider, first, the horror it meant in a society where personal dignity - even a peasant’s dignity - was the highest virtue. To be made a public spectacle - convicted of a crime, exposed naked, and dying in agony - was punishment far beyond mere execution.
Then there is the torture. It generally included being bound to a post and flogged, either with a short whip consisting of several leather tongs beaded with lead or bone tips, or with sticks. The victim was usually mounted to the crossbar on the ground and it was then hoisted up and attached to the upright. Nails were usually driven through the hands or wrists, and the feet..]

Trong bài “Cái Khố Của Jesus Trên Thập Giá”, Charlie Nguyễn, một trí thức Ca-Tô đạo gốc, đã viết về cây thập giá với nhiều chi tiết hơn như sau: Thập giá là một dụng cụ giết người hết sức dã man, thường được các đế quốc cổ Hy Lạp và cổ La Mã sử dụng. Đây là một loại cực hình đặc biệt mà người La Mã và Hy Lạp chỉ dùng riêng cho các nô lệ hoặc dân các nước thuộc địa nổi loạn chứ không áp dụng cho các công dân của họ. Trước khi bị đóng đinh, các tội nhân không phân biệt nam nữ, đều bị lột trần truồng, tuyệt đối không có một mảnh vải nhỏ nào che thân. [Do đó, cái khố Giê-su mang trên cây thập giá là sản phẩm nghệ thuật sau này để che đậy (cover-up) sự kiện Giê-su là người Do Thái đã cắt bì, theo giám mục Peter de Rosa trong cuốn Vicars of Christ. TCN] Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết. Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài. Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở (air-suffocation) chứ không chết vì bị chảy hết máu. [Một hình ảnh khủng khiếp của nạn nhân trên cây thập giá như vậy mà người ta vẫn thản nhiên đeo lủng lẳng trên cổ đủ mọi cỡ lớn nhỏ của cây thập giá đó, và dựng nó lên ở khắp nơi, thật là khó hiểu. TCN]
Địa điểm hành hình tội nhân bằng thập giá thường ở những nơi công cộng như dọc đường lộ hoặc trên đồi cao để công chúng dễ thấy. Hình phạt xử tử bằng thập giá vừa là một hình phạt về thể hình giống như lăng trì (rất đau đớn và chết chậm) nhằm mục đích khủng bố tinh thần đám dân nô lệ và vừa là một nhục hình nhằm sỉ nhục tội nhân vì suốt trong một thời gian dài tội nhân bị phơi thân trần truồng trên thập giá truớc mặt công chúng.
Lịch sử Tây phương ghi nhận nhiều vụ hành hình bằng thập giá. Vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, hoàng đế Alexander the Great của Hy Lạp đã xua quân tiến chiếm thành Tyre. Vì bị dân thành chống cự, Alexander đã ra lệnh đóng đinh 2000 dân của thành này. Vụ thứ hai rất nổi tiếng xảy ra năm 71 trước Công Nguyên, đó là vụ viên tướng La Mã Marcius Crassus ra lệnh đóng đinh 6000 nô lệ có liên quan trong cuộc nổi loạn của nô lệ Spartacus. Sáu ngàn cây thập giá mang xác người đã được dựng lên dọc theo con đường vài chục dặm từ Cupua đến Rome!
Đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, triều đại Constantine ra luật hủy bỏ lệnh cấm đạo Ki Tô và bỏ luôn hình phạt dã man này.
Hiển nhiên, Jesus là một trong số những nạn nhân đã bị người La Mã xử tội bằng cách đóng đinh trên thập giá. Thế nhưng, người La Mã sau này lại không nhận tội giết Chúa mà lại đổ cho dân tộc Do Thái đã giết Ngài! Đó là nguyên nhân chính yếu gây nên họa diệt chủng Do Thái triền miên trong gần hai ngàn năm qua.
Bốn thế kỷ sau cái chết của Giê-su trên thập giá, hoàng đế La Mã Constantine đã dùng cây thập giá giết người để làm huy hiệu cao quý cho cả đế quốc. Constantine tuyên bố: "Dưới dấu hiệu thập giá, ta sẽ chinh phục thế giới". (In Hoc Signo Vinces) Constantine xua quân đi chinh phục tới đâu truyền đạo Kitô tới đó. Chẳng bao lâu, toàn đế quốc La Mã trở thành các nước có đa số dân theo đạo Kitô. Ai theo đạo thì được các quân lính mang huy hiệu chữ thập bảo vệ, ai kháng cự tất nhiên sẽ phải chịu hình phạt. Dần dần các dân theo đạo cảm thấy cây thập giá như một thứ bùa hộ mạng và hoàn toàn quên mất thực chất của nó là một dụng cụ giết người cực kỳ hiểm ác. Họ bắt đầu nhìn cây thập giá như biểu hiện cho tình yêu đau khổ của Chúa Jesus (the symbol of Christ's suffering love) và cũng từ đó họ gọi cây thập giá là THÁNH GIÁ (The Holy Cross).
Tại các nhà thờ, những bài kinh ca ngợi Thánh Giá xuất hiện: "Chúng tôi kính mừng Cây Thánh Giá là cây đã chuộc tội chúng tôi, là cây lành thánh sang trọng, là đơn linh nghiệm, là tàu vượt biển, là chìa khóa mở cửa thiên đàng, là cành cây đầy búp bông hoa quả, là cây đã chở mình Chúa tôi. Chúng tôi trông cậy cây thánh giá đưa chúng tôi qua khỏi gian nan tới nước thiên đàng bên cạnh Chúa!".
Như vậy, cây thập giá, tượng trưng cho một loại hình phạt man rợ và khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng nền thần học Ki Tô Giáo đã biến cái vật kinh khủng đó đã từng dùng để hành hình hàng ngàn người, thành vật hàng triệu tín đồ tôn thờ. Như vậy, những cây thập giá dùng để hành hình các tên trộm cướp hay phản loạn cũng là “thánh giá” cả, vì Giê-su không phải là người duy nhất trong lịch sử chịu thứ hình phạt đó. Tôi không biết người khác nghĩ sao chứ mỗi khi tôi nhìn thấy cây thập giá bất cứ ở đâu, trên nóc nhà thờ, trên bộ áo khoác, hay đeo trên cổ của bất cứ ai, là tôi lại nhớ đến cái cực hình đóng đinh trên thập giá của dân La Mã cổ xưa, đã từng gây ra sự đau đớn cùng cực của hàng trăm ngàn con người, và tôi nghĩ rằng không có cách nào có thể làm cho tôi tôn thờ một vật có một lịch sử dã man đẫm máu như vậy, dù đó là cái thập giá mà Giê-su hoặc bất cứ ai bị đóng đinh trên đó. Tín đồ Ki Tô thật là kỳ lạ, họ tôn vinh một vật mà Chúa của họ chịu cực hình đóng đinh trên đó. Họ hân hoan tin rằng sự đau khổ của Chúa chính là phương tiện giúp họ lên thiên đường. Họ chỉ nghĩ đến thiên đường cho riêng mình và ca tụng sự chịu cực hình của Chúa họ. Tôi nghĩ không có tôn giáo nào có thể nhồi vào đầu óc con người những ý tưởng vô cùng ích kỷ như là Ki Tô Giáo. Nhưng tại sao họ có thể bị đưa vào những tâm cảnh như vậy?

Lý do là, tất cả sự tôn sùng cây thập giá của Ki Tô Giáo đều xoay quanh “huyền thoại cứu rỗi”, một mánh mưu thần học Ki Tô Giáo để huyễn hoặc đầu óc yếu kém của những kẻ nhẹ dạ, dễ tin bướng tin càn. Thật vậy, những người Ki Tô Giáo được dạy để tin rằng, Chúa Giê-su của họ tình nguyện leo lên cây thập giá để cho người ta đóng đinh, theo đúng ý muốn của Cha ông ta ở trên trời, gánh hết cái tội tổ tông di truyền từ Adam và Eve từ đời này đến đời khác, để cho cha ông ta nguôi cơn giận, và mọi người đều được hưởng sự ân sủng của Cha ông ta. Đây là lý luận Thần Học để lừa bịp những kẻ ngu si, vì đóng đinh trên cây thập giá là hình phạt của người La Mã dùng để trị những kẻ phản loạn, ăn trộm ăn cướp. Trong cuốn “Honest To Jesus”, Robert J. Funk, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Westar, Sáng Lập Viên “The Jesus Seminar”, viết, trang 17: “Nói tóm lại, Giê-su không thành công trong bất cứ phạm trù nào mà hầu hết chúng ta coi như là những dấu hiệu của sự thành công; thay vì đó, ông ta bị hành quyết như là một tên tội phạm thông thường.” (After all, Jesus was not successful in any of the categories most people regard as marks of success; instead, he was executed as a common criminal). Trong lịch sử không phải chỉ có mình Giê-su là bị đóng đinh trên thập giá, vì đóng đinh trên thập giá là một hình phạt thuộc loại dã man nhất của người La Mã trước và sau thời Giê-su. Cho nên trước và sau Giê-su đã có nhiều người bị hình phạt đó, thường dùng để xử và hành quyết những tên trộm cướp và phản loạn. Tân Ước cũng viết rõ Giê-su bị đóng đinh cùng lúc với 2 tên ăn trộm ở hai bên. Về bản chất các cây thập giá đều có cấu trúc như nhau, nói cách khác, cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó về bản chất không có gì khác với những cây thập giá mà người La Mã đã từng đóng đinh những tội phạm khác, và hiển nhiên cây thập giá trên nóc nhà thờ, đeo trên cổ của các tín đồ Ki-Tô Giáo, không phải là cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, cho nên nó chỉ có tính cách biểu tượng. Cây thập giá, biểu tượng của một loại hình phạt thuộc loại dã man nhất của nhân loại mà người La Mã dùng để hành hính các tội phạm trong xã hội, trở thành cái gọi là “Thánh giá”, là một chuyện có tính cách sỉ nhục đầu óc con người ngày nay. Nhưng để mê hoặc tín đồ, Ki Tô Giáo đã “thánh hóa” cái biểu tượng man rợ này làm biểu tượng của tôn giáo họ, và các tín đồ đều tin rằng cái biểu tượng này sẽ giúp họ lên thiên đường với Chúa, cho nên họ có thể làm bất cứ điều gì, dù độc ác đến đâu để vinh danh Chúa qua cái biểu tượng đó.. Chẳng trách là, Giáo hội Ca-Tô Rô-ma đã vác cây thập ác giáng lên đầu nhân loại 7 núi tội ác, trong đó Giáo hội đã sử dụng những hình phạt dã man không kém,và có khi còn dã man hơn, hình phạt đóng đinh trên thập giá, như Giáo hoàng John Paul II đã từng thú nhận trước thế giới. [Xin đọc 5 núi tội ác của Ca Tô Giáo trong loạt bài “Công Giáo Hắc Sử” đăng trên sachhiem.net] Người Ki Tô có cái tật là những gì nhơ bẩn và ác độc nhất thì họ coi như là thánh. Các giáo hoàng giết người, loạn luân, trụy lạc v..v.. trong lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-ma, hoặc vô đạo đức tôn giáo như John Paul II và Benedict XVI cũng được gọi là đức “thánh” cha. Những tên Việt Gian, Hán Gian v..v.. bị giết về tội phản quốc cũng được gọi là “thánh” tử đạo v..v…
Chúng ta đã biết, huyền thoại “cứu rỗi” dính liền với nền thần học về cây thập giá (The theology of the cross) mà Giê-su bị đóng đinh trên đó và các tín đồ Ki Tô Giáo thường gọi là “thánh giá”. Nhưng ngày nay, vai trò “cứu rỗi” hay “cứu thế” của Giê-su đã không còn ý nghĩa trước những nghiên cứu của chính những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo cho nên từ “thánh giá” cũng không còn ý nghĩa. Thật vậy, sau đây chúng ta hãy đọc vài đoạn cốt yếu về “huyền thoại cứu rỗi” của Linh Mục Ca-Tô Rô-ma, James Kavanaugh, và về “huyền thoại cứu thế” của Giám mục Tin lành, John Shelby Spong. Cả hai bài này đã được đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây, và mới được đăng lại trên sachhiem.net.. [Xin mời độc giả đọc toàn phần hai bài này trên sachhiem.net]Trước hết là vài trích dẫn trong bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi” (The Salvation Myth) của Linh Mục James Kavanaugh :
Hi sinh tế thần, chìa khóa của sự “cứu rỗi”, giải thích quan điểm của Ki Tô Giáo về sự kiện Giê-su bị đóng đinh trên thập giá như là một cái chết hi sinh tế thần. Điều này cũng là tự nhiên vì Ki Tô Giáo bắt nguồn từ Do Thái Giáo. Người Ki Tô thấy có một sự tương đồng đặc biệt giữa cái chết của Giê-su và cái chết của con chiên (cừu) mà người Do Thái giết khi họ thoát ra khỏi vòng nô lệ của Ai Cập trong cuộc “vượt qua”…
Huyền thoại Ki Tô về sự “cứu rỗi” còn khẳng định là con người không thể được cứu rỗi nếu không có cái chết của đấng Ki Tô. Con người không chỉ sinh ra một cách bất toàn và trong tội lỗi, mà đã phạm vô số tội trong đời và thường xuyên cần phải lấy lại tình thương của Thiên Chúa (God). [Nhưng đọc Cựu Ước thì chúng ta thấy tội lỗi của Thiên Chúa trong đó vượt qua sức tưởng tượng của con người, và ở trên cõi đời này chưa có một người nào, kể cả tập hợp “Tần Thủy Hoàng + Stalin + Hitler + Mao” lại ác độc và tội lỗi như Thiên Chúa trong Cựu Ước. TCN]
Đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).
Tôi không muốn được “cứu rỗi” hay rửa sạch tội lỗi trong máu của bất cứ ai. Tôi được cứu khỏi cái gì? Tôi cũng không chấp nhận huyền thoại về một Thiên Chúa đòi hỏi đối xử với con của mình là Giê-su bằng một loại công lý vô tình cảm và đòi hỏi hắn phải chết để chuộc tội cho tôi. Cái huyền thoại này cũng chẳng có gì hấp dẫn hơn vì ông ta đã vinh quang làm cho con ông ta sống lại. Tôi không thể yêu một ông Cha như vậy và cũng chẳng có gì cần phải biết ơn một đứa con như vậy. Tôi không yêu cầu ông ta phải chịu đau khổ vì tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy.
Chúng ta vừa đọc vài nhận định của Linh Mục James Kavanaugh về vai trò “cứu rỗi” của Giê-su. Sau đây chúng ta hãy đọc vài đoạn của Giám Mục John Shelby Spong về vai trò “cứu thế” của Giê-su. Đây chỉ là vài trích dẫn trong bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus As Rescuer: An Image That Has To Go), của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong, thuộc hệ Tân Giáo (Episcopal hay Anglican) của Tin Lành, hiện là Giám mục ở Newark, bang New Jersey, Hoa Kỳ, trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hay Chết” (Why Christianity Must Change or Die), xuất bản năm 1998, từ trang 83 đến trang 99. Giám Mục Spong đã dựa vào chính cuốn Kinh của Ki Tô Giáo [Bible] và cho chúng ta một phân tích khá đầy đủ về nguồn gốc của huyền thoại đã dựng Giê-su lên như là một đấng cứu thế, một vai trò mà Giám mục Spong nghĩ cần phải dẹp bỏ trong thời đại này trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại và trước những bằng chứng khoa học bất khả phủ bác..

Trong những nhịp độ nói năng trơn tru từ bờ môi của những người truyền giáo, chúng ta thường nghe được những lời quen thuộc: “Giê-su chết cho tội lỗi của chúng ta. Ông ta đã đổ những giọt máu quý báu trên thập giá ở Calvary để cho chúng ta được “cứu”. Chúng ta đã được rửa sạch trong máu của con chiên Giê-su (Lamb). Với sự hi sinh của Giê-su, chúng ta đã được “cứu”. Tì vết nguyên tội (hay “tội tổ tông”) trên linh hồn của chúng ta đã được tẩy sạch”. Thật vậy, chúng ta đã nghe những lời như trên hàng ngàn lần.
Rất hiếm khi mà người Ki Tô bình tâm nghĩ lại để nhận ra điều là họ đã biến Chúa Cha của họ thành con yêu tinh (ogre). Một người cha mà đóng đinh con mình trên thập giá, bất kể với lý do nào, cần phải bắt giam vì tội hành hạ trẻ con (child abuse). Nhưng người ta vẫn tiếp tục nói về Chúa Cha như vậy, làm như ông ta sẽ trở nên thánh thiện hơn và đáng để thờ phụng hơn…
Sự tan ra từng mảnh này [của Hệ thống thần học Ki Tô Giáo] bắt đầu với nhận định là Adam và Eve không phải là hai tổ đầu tiên của nhân loại và rằng tất cả sự sống của con người không xuất phát từ hai người trên. Thuyết Tiến Hóa đã làm cho câu chuyện về Adam và Eve nhiều nhất là một truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ cho các tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay, nhiều tiếng nói vẫn cất lên từ những ốc đảo xa xôi trong thế giới để chống đối. Những tiếng nói này không bao giờ có thể thành công.
Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong nguyên tội. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết của tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu không đi rửa tội.
Một đấng “cứu thế” có nhiệm vụ khôi phục chúng ta trở về tình trạng tiền sa ngã [nghĩa là mù và vô trí. TCN] chỉ là sự mê tín trước thời Darwin (Pre-Darwin superstition) và là sự vô nghĩa sau thời Darwin (Post-Darwin nonsense). Một đấng siêu nhiên cứu chuộc đi vào trong thế giới sa ngã của chúng ta để khôi phục sự sáng tạo chỉ là một huyền thoại của đạo thờ Thần (a theistic myth). Do đó, chúng ta phải vứt bỏ cái vai trò “cứu thế” của Giê-su đi. Cái hình ảnh Giê-su trong câu nói “như là một đấng, từ thiên đường xuống để cứu vớt chúng ta” không còn một giá trị nào trong thế giới của chúng ta. Những quan niệm này cần phải nhổ bật chúng lên từ gốc rễ, và vứt bỏ.

Qua những đoạn trích dẫn của Charlie Nguyễn, Russell Shorto, Linh mục Kavanaugh, và Giám mục Spong, chúng ta thấy rõ thực chất của cái mà tín đồ Ki Tô Giáo gọi là “thánh giá” đã không còn ý nghĩa trong thời đại mà vai trò “cứu thế” cũng như “cứu rỗi” của Giê-su đã không còn chỗ đứng trong giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô. Ngày nay, phần lớn những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo đã không còn tin vào những giáo lý của giáo hội về tội tổ tông, về quỷ Satan, cũng như về chuyện đức mẹ đồng trinh và thăng thiên. Nhưng điều đáng nói là họ vẫn duy trì những giáo lý này trong đám tín đồ thấp kém ở dưới, bất kể là những bằng chứng khoa học cũng như những lời thú nhận của giới cao cấp trong giáo hội đã chứng tỏ những giáo lý về “chuộc tội”, “cứu rỗi”, “cứu thế” chẳng qua chỉ là những mánh mưu thần học để đưa con người vào vòng mê tín dễ bề ngự trị.

Sự từ bỏ những niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác không đâu rõ hơn trong những thú nhận của Vatican trong vài thập niên qua. Thật vậy, từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) trong 6 ngày của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thượng đế. Và giáo hoàng nói câu trên chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, Thượng đế của những khoảng trống (God of the Gaps), một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.
Rồi, trước những khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).
Còn nữa, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).
Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa), Giáo hoàng đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.
Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, và sự luận phạt của Giê-su đối với những tín đồ đạo Giê-su không tin ông ta chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đã không còn ý nghĩa. Thảm cảnh của các tín đồ Ki Tô Giáo, phần lớn là những người dân thường kém hiểu biết nên rất dễ bị huyễn hoặc, là họ tiếp tục bị nhốt trong những ốc đảo ngu dốt [từ của Linh mục Trần Tam Tĩnh], không hề biết đến những tiến bộ kiến thức của nhân loại. Bởi vì, họ chưa bao giờ được nghe các linh mục, mục sư cho biết những điều này trong nhà thờ, dù có thể những vị này cũng đã biết nhưng vẫn dấu kín trước đám tín đồ thấp kém ở dưới để giữ đức tin của tín đồ không bị chao đảo mà thực ra chỉ để duy trì những quyền lợi thế tục trên đám tín đồ thấp kém ở dưới..
Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth) như sau:
Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.
(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Chúng ta thấy rằng, nếu những luận điệu thần học Ki Tô Giáo về tội tổ tông và do đó kéo theo những giáo lý về “chuộc tội”, “cứu thế” và “cứu rỗi” của Giê-su chẳng qua chỉ là những huyền thoại mà Ki Tô Giáo bày đặt ra để huyễn hoặc đầu óc con người thì tất nhiên cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó không có ý nghĩa gì khác là một dụng cụ trong một loại hình phạt ác độc cổ xưa, và tuyệt đối không có gì là “thánh” ở đó cả.
Hơn nữa, cây Thập ác đó, đối với những người hiểu biết, chỉ là một biểu tượng của một cách hành hình tội phạm man rợ nhất của người La Mã trong lịch sử nhân loại, và đối với những người hiểu biết và nhạy cảm, nó chỉ có tác dụng gây lên một ấn tượng ghê sợ và kinh tởm. Người dân hiểu biết về lịch sử cây Thập ác đó, mỗi khi nhìn thấy nó ở đâu, lại không khỏi rùng mình ghê sợ vì liên tưởng đến cái loại hình phạt dã man đó và sự đau đớn vô cùng tận của những người bị hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập giá.
Trong thế giới tự do ngày nay, không ai cấm ai gọi cái hình cụ thập giá để đóng đinh người trên đó là “thánh giá”. Nhưng cũng trong thế giới tự do này, không ai cấm ai bày tỏ quan điểm của mình về thực chất cây thập giá đó trong lãnh vực học thuật. Khi xưa, trong thời đại dân trí còn thấp kém và nặng lòng mê tín, cây thập giá liên hệ đến những huyền thoại “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, cho nên đối với những tín đồ Ki Tô Giáo, từ “thánh giá” đối với họ có một ý nghĩa nào đó. Nhưng ngày nay, trước sự tiến bộ kiến thức của nhân loại, trước những khám phá bất khả phủ bác của khoa học, vai trò “cứu thế” của Giê-su cũng như huyền thoại “cứu rỗi” đã bị chính những người trong Ki Tô Giáo nhổ bật gốc rễ và vứt bỏ, từ “thánh giá” đã không còn ý nghĩa, và do đó, trong lãnh vực học thuật, nó đã trở về nguyên vị là biểu tượng ác độc của một loại hình phạt man rợ của con người trong thời đại chưa khai hóa.
Những người mang cây thập ác cắm trên đất đai Việt Nam có hiểu được điều này không?

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO PHỤC HƯNG - HỒI GIÁO

ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO PHỤC HƯNG
 ISLAM GIÁO

ThS. Nguyễn Bình
Viện Nghiên cứu Tôn giáo

 Đến thế kỉ XVIII, thế giới Islam giáo đã mất đi vầng hào quang của những thời đại hoàng kim trước đó.
 Đến thế kỉ XVIII, thế giới Islam giáo đã mất đi vầng hào quang của những thời đại hoàng kim trước đó. Đế quốc Ottoman, trung tâm thống trị của thế giới Islam giáo khi đó, do chính trị suy vi, kinh tế đình đốn, đã thất bại liên tiếp trong các cuộc chiến tranh với bên ngoài và bất lực trước sự tan rã của chính quyền các cấp. Xyri, Irắc, Ai Cập,... trở thành các lãnh địa độc lập hoặc bán độc lập của các lãnh chúa phong kiến. Từ giữa thế kỉ XVIII trở đi, Đế quốc Ottoman rơi vào tình trạng suy sụp. ở Iran, vương triều Safavi bị vương triều Khar thay thế, và đến đầu thế kỉ XIX, trở thành đối tượng tranh giành của các nước Nga, Anh, Pháp. ở ấn Độ, thực dân Anh lợi dụng sự tan rã của vương triều Moghul để xâm chiếm đất đai ấn Độ.
Năm 1798, để giành quyền kiểm soát tuyến đường thương mại quan trọng đi sang ấn Độ với Anh, Napoleon đưa quân đổ bộ lên cảng Alexandria, xâm nhập Ai Cập, mở đầu cuộc chinh phục bằng vũ trang của các nước thực dân phương Tây đối với các quốc gia Islam giáo. Cũng bắt đầu từ đây mở ra thời kì đấu tranh trong lịch sử cận đại của nhân dân các nước Islam giáo chống lại thực dân phương Tây. Từ giữa thế kỉ XIX, thế giới Islam giáo từ Marốc ở phía tây tới Indonesia ở phía đông lần lượt bị các nước tư bản phương Tây xâm lược, chia cắt và nô dịch. Ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan và Arập Xêút, tất cả các quốc gia Islam giáo khác đều có một thời nằm dưới sự cai trị của thực dân. Thậm chí những quốc gia kể trên không nằm trong chế độ thuộc địa thì cũng không tránh khỏi bóng tối của chủ nghĩa thực dân: Arập Xêút, Iran, Afghanistan là những nước bị bảo hộ, nếu không cũng phải có sự nhượng bộ đáng kể về chủ quyền với người Anh hoặc người Nga; Thổ Nhĩ Kỳ - thủ phủ của Đế quốc Ottoman - có mối quan hệ mật thiết với các cường quốc Tây Âu qua các vùng lãnh thổ ở Đông Âu và Bắc Phi vẫn phải nhẫn nhịn với các cường quốc đó trong suốt thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.
Dưới sự xâm nhập và thống trị của các thế lực thực dân phương Tây, cơ sở chính trị kinh tế và văn hóa tư tưởng của xã hội Islam giáo bị thách thức và lung lay. Người bảo hộ về danh nghĩa của cộng đồng Islam giáo - Đế quốc Ottoman, không những không có sức chống lại các cường quốc phương Tây mà bản thân nó cũng lâm vào tình trạng tan rã. Sự xâm nhập và thống trị của các cường quốc làm cho thế giới Islam giáo lâm vào tình trạng khủng hoảng xã hội, chính trị chưa từng có, đồng thời cũng dẫn tới khủng hoảng về tôn giáo và tinh thần.
Những tác động của phương Tây đối với Islam giáo có thể được tính từ thời điểm đầu thế kỉ XIX khi Napoleon tiến quân vào Ai Cập nhằm cắt đứt con đường thương mại của Anh tới ấn Độ. Nhưng sự can thiệp và tác động của phương Tây đạt Đến đỉnh điểm ở nửa đầu thế kỉ XX khi Anh và Pháp giành được một loạt các vùng đất ủy trị hoặc bảo hộ ở Trung Đông sau Thế chiến thứ Nhất. Điều này có nghĩa rằng, hầu hết lãnh thổ Bắc Phi, Trung Đông và ấn Độ nằm dưới quyền cai trị của các cường quốc Châu Âu. Nhiều tín đồ Islam giáo (dưới đây gọi là người Muslim) không thể lí giải nổi quyền bá chủ của phương Tây trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, bởi vì đó là lần đầu tiên trong lịch sử Islam giáo, đại đa số người Muslim không có quyền điều hành các công việc của riêng họ (trừ một giai đoạn ngắn ở thế kỉ XIII khi người Mông Cổ xâm chiếm Trung Đông). Người Muslim tự hỏi làm thế nào để lấy lại sức mạnh và uy thế mà họ đã có được dưới các vương triều như vương triều Moghul ở ấn Độ (1526 - 1858), hoặc vương triều Safavi ở Iran (1501 - 1738). Vấn đề này, đến nay, vẫn còn giá trị thời sự, và có một số quan điểm Islam giáo đương đại vẫn bộc lộ sự phản ứng với phương Tây và quá trình hiện đại hóa.
Từ nửa sau thế kỉ XIX, một số trào lưu tư tưởng xã hội có tính tôn giáo bắt đầu nổi lên trong thế giới Islam giáo. Các trào lưu này do các tinh anh tri thức trong tín đồ Islam giáo khởi xướng sau khi đã trải qua ách thống trị của những kẻ thực dân Châu Âu đối với các nước Islam giáo. Họ cảm nhận được sự thách đố mạnh mẽ cũng như những nguy cơ đe dọa sự sinh tồn của Islam giáo từ ưu thế vượt trội của phương Tây về khoa học kĩ thuật, thực lực kinh tế và kĩ thuật quân sự. Chủ nghĩa chính thống (Fundamentalism), chủ nghĩa hiện đại (Modernism) và chủ nghĩa truyền thống (Traditionalism) là những trào lưu tư tưởng xã hội chủ yếu nhằm phục hưng Islam giáo trong bối cảnh thế giới hiện đại, nhưng mỗi trào lưu thực hiện mục tiêu đó bằng những  biện pháp khác nhau.
Để đơn giản hóa vấn đề và để nhận biết rõ hơn về Islam giáo đương đại, cần phân biệt ba trào lưu phục hưng Islam giáo nói trên, mặc dù cũng cần phải lưu ý, ranh giới giữa các nhóm không thật sự rõ ràng vì thành viên của các nhóm có thể có cùng một số đặc điểm.
Chủ nghĩa chính thống Islam giáo
Cuối thế kỉ XX, chủ nghĩa chính thống Islam giáo được các phương tiện thông tin và các nhà chính trị nhắc tới rất nhiều để gắn cho các nhóm Islam giáo khác nhau. Hiện nay, thuật ngữ “chủ nghĩa chính thống” cũng vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng(1). Nhiều học giả cố gắng phân tách hiện tượng chủ nghĩa chính thống Islam giáo. Trong cuốn Sự thống nhất và đa dạng trong chủ nghĩa chính thống, Arjomand S. A. cho rằng, khẳng định tính bất biến của kinh thánh Islam giáo là đặc điểm chung của các phong trào theo chủ nghĩa chính thống; hoặc chủ nghĩa chính thống thường được đặc điểm hóa bằng mục đích thi hành những hình phạt hudud(2), mặc dù chi tiết chính xác những hình phạt ấy như thế nào không được đề cập trong kinh Koran; một điểm yếu khác của cách lập luận này được dẫn chứng bằng quan điểm của Mawdudi - người ủng hộ việc thành lập một nhà nước thần quyền ở Pakistan, phản đối việc thực hiện hình phạt chặt tay những tên trộm trong mô hình nhà nước Islam giáo lí tưởng của ông. Chỉ ra nguyên nhân nảy sinh chủ nghĩa chính thống là việc rất khó khăn vì ở mỗi quốc gia khác nhau lại có những nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, cũng có thể đưa ra một vài điểm khái quát về chủ nghĩa chính thống Islam giáo.
Trước hết, chủ nghĩa chính thống là một trong những biểu hiện  phản ứng đối với ưu thế về kinh tế, chính trị và văn hóa phương Tây. Những nguy cơ của kiểu phản ứng này được Edward Said nêu trong cuốn Phong cách phương Đông xuất bản năm 1978. E. Said xác định Phong cách phương Đông là lối suy nghĩ dựa trên sự khác biệt về nhận thức luận và bản thể luận giữa phương Đông và phương Tây. Ông cũng dẫn lại lời phát biểu của Lord Cromer, thống đốc Ai Cập từ năm 1882 - 1907, rằng: Nói chung, người phương Đông hành động, nói và suy nghĩ hoàn toàn tương phản với người Âu. Người Châu Âu có lập luận chặt chẽ và giỏi về lôgích học một cách bẩm sinh trong khi người phương Đông kém cỏi về khả năng này một cách khác thường(3). Cách nhìn nhận định kiến như vậy vẫn còn kéo dài đến nửa cuối thế kỉ XX. Thái độ của những nhà Đông phương học ở phương Tây đã khơi gợi sự giận dữ của nhiều cá nhân và nhiều nhóm xã hội ở các nước chậm phát triển (bao gồm những người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội và các phong trào giải phóng), cũng như những người Muslim đang tìm cách duy trì bản sắc của họ trong thế giới hiện đại. Vì thế, chủ nghĩa chính thống là sự phản ứng chống lại chủ nghĩa thực dân/chủ nghĩa Đế quốc về kinh tế và chính trị của phương Tây, đồng thời những người theo chủ nghĩa chính thống phẫn nộ với những vấn đề mà phương Tây đặt ra cho các quốc gia Islam giáo núp dưới những chuẩn mực của phương Tây áp dụng cho toàn thế giới.
Thứ hai, cũng có thể coi chủ nghĩa chính thống là phong trào phản kháng quá trình hiện đại hóa - một quá trình mang lại những thay đổi về kinh tế và xã hội. Các mẫu hình văn hóa bị tác động và nhiều người tìm thấy sự an nhàn từ những thay đổi trong cách ứng xử truyền thống có trong di sản Islam giáo. Những di sản này bị suy giảm do sự xuất hiện các chế độ thế tục (quân sự hoặc dân sự) ở Trung Đông sau Thế chiến II. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, những quốc gia này bị coi là yếu kém đối với các nước phương Tây và không đáp ứng được sự mong đợi của các công dân.
 Thứ ba, có nhiều chế độ ở Trung Đông đã trải qua những ảnh hưởng của quá trình phát triển bất bình đẳng ở nửa cuối thế kỉ XX. Đó là, sự phát triển kinh tế không kéo theo sự biến chuyển tương xứng về chính trị, thể hiện ở việc tầng lớp tri thức không có cách nào để biểu đạt quan điểm chính trị của họ. Hơn thế nữa, những đợt suy thoái kinh tế đã tạo cơ hội cho những người theo chủ nghĩa chính thống tận dụng để kêu gọi “Trở lại với Islam giáo”.
Phản ứng lại phương Tây và quá trình hiện đại hóa không phải là đặc trưng riêng biệt của Islam giáo, vì các tôn giáo và các nền văn hóa khác cũng chống lại những thay đổi do hai tác nhân trên đem lại. Tuy nhiên, học giả Ernest Gellner cho rằng, nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện và tính bảo thủ của chủ nghĩa chính thống Islam giáo không chỉ liên quan tới phương Tây và quá trình hiện đại hóa, mà còn liên quan tới yếu tố riêng biệt của Islam giáo. E. Gellner nhận thấy căn nguyên gốc rễ nằm ở sự biện chứng giữa “Islam giáo bác học” (High Islam) và “Islam giáo bình dân” (Folk Islam). Islam giáo bác học là tôn giáo của thương nhân, tầng lớp trung lưu và học giả nơi đô thị - những người ưa thích một Islam giáo đúng mực, phục tùng kỉ luật ở nơi khuyến khích việc nghiên cứu tôn giáo và Thượng Đế là Đấng Tối cao. Islam giáo bình dân là tôn giáo của thị dân nghèo, nông dân và các bộ lạc, nơi mà hình thức thần bí, xuất thần của Islam giáo chiếm ưu thế và Thượng Đế ở khắp mọi nơi hoặc có thể thấu tới được qua vật trung gian, chẳng hạn như qua các thầy tu Sufi. E. Gellner thừa nhận, ranh giới giữa Islam giáo bác học và Islam giáo bình dân thường không rõ ràng, nhưng ông cũng khẳng định, đôi khi chúng liên minh với một lực lượng khác để chống lại chính quyền đương thời.
Chủ nghĩa hiện đại Islam giáo
Ngay khi sự khác nhau giữa những tiến bộ về công nghệ, khoa học và vật chất ở phương Tây so với sự yếu kém của các khu vực Islam giáo trở nên rõ ràng ở thế kỉ XIX, nhiều người Muslim cho rằng cách duy nhất để bắt kịp những tiến bộ ấy là thay thế những kẻ cai trị chuyên quyền và mục ruỗng bằng hình thức dân chủ như ở Anh và Pháp. Vì vậy, những người theo chủ nghĩa hiện đại (tiêu biểu là Muhammad Abdul) đưa ra một khối lượng các tài liệu luận giải tôn giáo để khẳng định Islam giáo thực sự không có gì khác so với các khái niệm dân chủ Tây Âu. Các tài liệu như vậy đã được Hourani biện giải. Ông kết luận: Theo cách suy luận này, nguyên tắc maslaha dần trở thành những ngành phục vụ công cộng, shura trở thành dân chủ nghị viện, ijma thành công luận(4); bản thân Islam giáo đã là văn minh và năng động.
Husein Nasr, nhà Islam giáo học nổi tiếng đương đại, từng chỉ ra rằng, nghĩa của hai chữ hiện đại trong chủ nghĩa hiện đại hoàn toàn không có ý chỉ khái niệm về thời đại, mà ý nghĩa đích thực của nó là trái ngược với tính thần thánh siêu nghiệm và nguyên tắc vĩnh hằng, nó chỉ “con người ở cõi đời này”(5).
Chủ nghĩa hiện đại Islam giáo có rất nhiều nhân vật tiêu biểu, dù họ ở vào những bối cảnh xã hội và điều kiện lịch sử khác nhau, nhưng tư tưởng chủ đạo của họ là sự nhất trí, tức là vận dụng nguyên tắc sáng chế (ijtihad) trong giáo pháp học (Fiqh) để giải thích lại ý nghĩa của kinh Koran và truyền thống Islam giáo với mong muốn truyền tính khoa học vào Islam giáo, làm cho diễn biến của Islam giáo có thể thích ứng với nhu cầu của xã hội đương thời và thuận theo sự biến đổi của lịch sử. Điều này tạo nên đặc điểm chung của các nhà hiện đại chủ nghĩa.
Nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của chủ nghĩa hiện đại Islam giáo ở thế kỉ XIX phải kể đến Kamaluting Afghani, người Iran. Afghani cho rằng, Islam giáo là một hệ thống tín ngưỡng và lối sống bao trùm mọi thứ, vì chỉ có như vậy tính khoa học mới có thể được đưa vào trong một tín ngưỡng tôn giáo như Islam giáo. Nhận thức của Afghani về Islam giáo chủ yếu thể hiện ở sự quan tâm của ông đối với triết học và sự tôn sùng khoa học. Ông từng chỉ ra rằng, ngu dốt là nguyên nhân quan trọng khiến cho cộng đồng Islam giáo suy vi, mà muốn phục hưng thì phải đề xướng thái độ khoa học. Ông còn cho rằng, phàm những sự việc đã biết đều nhờ khoa học, phàm các dân tộc nổi tiếng đều nổi tiếng nhờ khoa học. Người Muslim không nên bài xích khoa học vì Islam giáo là một tôn giáo gần khoa học nhất(6).
Ahmuh Khan của ấn Độ mong muốn kiến lập một hệ thống lí luận Islam giáo hiện đại, dựa vào đó để điều chỉnh mối quan hệ giữa khoa học hiện đại và Islam giáo truyền thống. Ông tin tưởng một cách sâu sắc rằng, giữa ngôn ngữ của Allah - kinh Koran và tạo vật của Allah - thế giới tự nhiên hoàn toàn không có mâu thuẫn; giữa thiên khải của Thượng Đế và khoa học có mối quan hệ bổ sung cho nhau, điều hòa thống nhất. Còn Muhammad Abdul của Ai Cập cho rằng, tôn giáo và khoa học bổ sung cho nhau: một mặt, sự thiên khải là siêu nghiệm, do đó cao hơn lí trí của con người, mặt khác, tính thật giả, đúng sai trong tôn giáo lại cần đến phán đoán khoa học; tương tự, giữa tôn giáo và khoa học cũng có sự đồng thuận: khoa học là nhận thức về tự nhiên, còn tự nhiên là tạo vật của Thượng Đế, tôn giáo là sự thiên khải của Thượng Đế, chúng đều bắt nguồn từ Thượng Đế. Muhammad Abdul nhấn mạnh tính thống nhất giữa Islam giáo và tiến trình hiện đại, nhằm làm cho Islam giáo thoát khỏi sự giải thích cứng nhắc. Về truyền thống, làm cho nó thích ứng với sự biến đổi của điều kiện lịch sử, nhưng đồng thời lại không nhất thiết vứt bỏ những tín điều cơ bản lấy kinh Koran làm cơ sở.
Một hình thức khác của chủ nghĩa hiện đại Islam giáo được những người ưa thích tính chính xác của lịch sử ủng hộ chú trọng vào những thông điệp có trong kinh Koran và sử dụng phép loại suy để đưa ra những kết luận thích hợp với tình hình hiện tại. Fazlur Rahman, một học giả người Pakistan, cho rằng điều cần thiết đối với người Muslim là phải đảm trách việc phân tích có phương pháp từng tiết (aya) trong kinh Koran. Việc làm này sẽ cung cấp cho người Muslim một quan điểm lịch sử tổng thể về sự thiên khải, thể hiện thông điệp chung của kinh Koran hơn là việc diễn giải các tiết cụ thể. Cho đến nay, người Muslim vẫn tiếp tục phân tích kinh Koran, nhưng chỉ nhằm phát hiện sự mâu thuẫn giữa các tiết, và dẫn tới khuynh hướng cụ thể hóa chứ không phải khái quát hóa. Mục đích của F. Rahman nhằm tỏ rõ ở thời gian thiên khải, kinh Koran đã thể hiện sự tiến bộ và tự do, đồng thời đó cũng chính là tinh thần chung của kinh Koran phải được người Muslim ứng dụng trong thời hiện đại. F. Rahman hướng sự chú ý tới vị trí của người phụ nữ trong Islam giáo, vì nhiều học giả khẳng định việc diễn giải tự do các đoạn trong kinh Koran phủ nhận người phụ nữ có các quyền tương tự như của nam giới đối với vấn đề thừa kế và sự bình đẳng trong các tranh chấp pháp lí. Ông cho rằng, trên thực tế kinh Koran cải thiện vị trí của người phụ nữ rất nhiều so với thời kì trước khi Islam giáo ra đời, vì tục lệ giết bé gái sơ sinh đã được ngăn cấm, và người phụ nữ ít nhất cũng được đảm bảo một số lợi ích về thừa kế và được thừa nhận về pháp lí, trong khi ở thời tiền Islam giáo tình hình không phải như thế. Bởi thế trong thời đại hiện nay, người phụ nữ nên đòi thêm những quyền lợi khác ngoài việc đọc kinh Koran.
Một học giả người Angiêri theo chủ nghĩa hiện đại là Muhammad Arkoun cũng khuyến khích người Muslim chấp nhận những cách chú giải kinh thánh phù hợp để hiểu về Islam giáo. Quan điểm có tính chất học thuật của ông bác bỏ khuynh hướng của những người theo chủ nghĩa duy lí được đại diện bởi trường phái thần học Mu‘tazilites, các triết gia Islam giáo và chân lí phổ quát, vĩnh cửu của F. Rahman dưới hình thức tinh thần của kinh Koran. M. Arkoun không chấp nhận bất cứ sự nhấn mạnh nào vào nguyên bản gốc hoặc vào bản chất không thay đổi. Nói cách khác, ông ủng hộ việc giải thích mở về Islam giáo.
Trong việc phân loại các nhà hiện đại chủ nghĩa Islam giáo, Husein Nasr cũng tính đến những người theo chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc trong thế giới Islam giáo ở nửa đầu thế kỉ XX chịu ảnh hưởng của các mô hình thế tục phương Tây. Những người theo chủ nghĩa dân tộc nhận được sự bảo trợ của Thổ Nhĩ Kỳ và Iran từ những năm 1920 cho đến khi nổi lên phong trào phục hưng Islam giáo ở cuối thế kỉ XX là những đối thủ chủ yếu của Islam giáo. Tuy nhiên, cũng có những hình thức khác của chủ nghĩa dân tộc mà ở ngay trong bản thân Islam giáo, trường hợp Pakistan, được thành lập năm 1947, tách ra từ tiểu lục địa ấn Độ, là một minh chứng rõ ràng. Chủ nghĩa dân tộc cũng có sức mạnh trong thế giới ảrập, và ở giữa thế kỉ XX cũng có người ủng hộ cho cái gọi là chủ nghĩa ảrập bao gồm các quốc gia Ai Cập, Xyri, Irắc, Libi và Yêmen (thực tế còn có Cộng hòa ảrập Thống nhất thành lập năm 1958, tồn tại trong một thời gian ngắn giữa Ai Cập, Xyri và Bắc Yêmen). Husein Nasr cũng gộp những người theo chủ nghĩa xã hội Islam giáo và chủ nghĩa Mác vào trong nhóm những người theo chủ nghĩa hiện đại. Đó là trường hợp của Tổng thống Nasser của Ai Cập, là đảng Ba’ath ở Xyri và Irắc trong những năm 1960, 1970. Hình thức chủ nghĩa xã hội này, nhìn chung, gặp phải nhiều tai tiếng và phản đối của các dân tộc trong khu vực này.
Chủ nghĩa truyền thống Islam giáo
Những người theo chủ nghĩa truyền thống Islam giáo được xác định là những người Muslim chấp nhận di sản của Islam giáo là một phần thế giới quan của họ, bao gồm kinh thánh, truyền thuyết về Nhà Tiên tri Muhammad, giáo luật, thần học, triết học, Sufi và cách thức cụ thể nhìn nhận thế giới tự nhiên. Theo Husein Nasr, chủ nghĩa truyền thống có điểm khác so với cách diễn giải Islam giáo của những người theo chủ nghĩa hiện đại, bởi vì ông nhận thấy nhiều người trong số những người theo chủ nghĩa hiện đại chịu ảnh hưởng của triết học phương Tây (mặc dù, ông thừa nhận những người theo chủ nghĩa hiện đại như M. Arkoun và F. Rahman cũng có những yếu tố tích cực trong các tác phẩm của họ). Chủ nghĩa truyền thống Islam giáo cũng khác với chủ nghĩa chính thống Islam giáo vì chủ nghĩa chính thống có chiều hướng phủ nhận nhiều truyền thống Islam giáo trong những nỗ lực của họ để lấy lại cách giải thích "ban sơ" về Islam giáo mà họ tin tưởng đã tồn tại dưới thời Nhà Tiên tri Muhammad và bốn vị Caliph đầu tiên. Thật khó ước đoán tỉ lệ những người theo chủ nghĩa truyền thống so với các nhóm khác, nhưng có khả năng nhóm này đông hơn nhóm theo chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa chính thống. ở mức độ nhất định, cả chủ nghĩa hiện đại Islam giáo và chủ nghĩa chính thống Islam giáo đều nổi lên ở thời đương đại như một phản ứng đối với quá trình hiện đại hóa và phương Tây. Chủ nghĩa truyền thống Islam giáo cũng là một dạng phản ứng đối với những thách thức mới, nhưng theo cách riêng của nó. Chủ nghĩa truyền thống Islam giáo cũng là sự kết hợp của nhiều nhóm khác nhau. Một số nhóm hi vọng có thể trở lại Islam giáo thủa sơ khai bằng phương pháp hòa bình, nhóm khác lại cho rằng cần phải dùng các biện pháp đấu tranh chính trị. Ví dụ, ở ấn Độ, một nhóm những người theo chủ nghĩa truyền thống, nổi danh với cái tên Deobandis(7) (nhóm này thuộc trường phái Hanafi), khẳng định bản sắc của họ bằng cách lờ đi lề thói của người Anh và đưa ra sự hưởng ứng với thời hiện đại từ trong truyền thống của Islam giáo. Phái Deobandis đã thành lập một cơ sở đào tạo giáo sĩ và trường học ngay bên ngoài Delhi sau cuộc binh biến năm 1857, nhằm đào tạo người Muslim ấn Độ trở thành những giáo viên, hướng dẫn cầu nguyện, bảo vệ thánh mộ, bác sĩ, v.v… Cơ sở đào tạo giáo sĩ này đã thống nhất hai dòng tư tưởng Islam giáo: thần học truyền thống và sự trang nghiêm của Sufi; Không khuyến khích đụng độ với người Anh vì sự thay đổi sẽ dần dần đến thông qua việc cải thiện cộng đồng, bằng tinh thần của mỗi cá nhân và những nỗ lực tôn giáo. Sự chỉ đạo cộng đồng Muslim được đưa ra dưới dạng fatawi (quan điểm của tòa án), tức là người lãnh đạo trường học phải thực hiện phép loại suy (ijtihad) trong phạm vi của trường phái Hanafi. Việc nhấn vào fatavi giải thích cho mong muốn cải cách cộng đồng Muslim và cũng là để phá vỡ hệ thống tòa án của người Anh. Người Muslim được khuyến khích đưa các tranh chấp tới trường học hơn là đệ trình tới người Anh, và bằng cách đó mới bảo vệ được văn hóa và luật Islam giáo. Cùng với sự di cư của người Muslim ấn Độ và Pakistan tới Anh, phái Deobandis đã thành lập được chi nhánh ở đó. Phái Deobandis đang nỗ lực giành quyền lãnh đạo cộng đồng Muslim ở cả Anh và Pakistan vì phải đấu tranh với tổ chức Jama‘at-i-Islami - một tổ chức theo chủ nghĩa chính thống do Abu al-Alâ Mawdudi sáng lập đầu những năm 1940 với mục đích biến Pakistan thành một nhà nước Islam giáo chính trị thần quyền, và phái Barelwis ở ấn Độ do Ahmad Rizâ Khan (1856 - 1921) sáng lập, tín đồ của phái này trải khắp Nam á và có nhiều môn đồ ở Anh.
Trước những sự kiện gây ảnh hưởng tới tình hình thế giới của phong trào chấn hưng Islam giáo nói chung, học giả người Mỹ, S. Huntington đã viết trong Xung đột văn minh với việc xây dựng lại trật tự thế giới: “Phong trào phục hưng Islam giáo ít ra cũng là một sự kiện lịch sử quan trọng tựa như cuộc cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp hay cách mạng Nga vậy”(8). Các nhà nghiên cứu còn nhận định rằng, phong trào phục hưng Islam giáo rất có thể trở thành đối tượng mà cả thế giới phải chú ý và quan tâm đúng mức trong thế kỉ XXI. Phong trào phục hưng Islam giáo giờ đây không còn là công việc nội bộ thế giới Islam giáo, mà ảnh hưởng của nó liên quan đến cục diện quan hệ quốc tế, đến sự phát triển kinh tế và chính trị thế giới.
Tuy nhiên, cũng cần đề cập đến các vấn đề mà Islam giáo đang phải đối mặt. Sự thực có thể đúng là cuộc sống du mục trên bán đảo ảrập đã thay đổi ít nhiều kể từ thời đại của Nhà Tiên tri Muhammad, nhưng cũng rõ ràng rằng, thế giới đang có những thay đổi lớn lao trong khung cảnh của toàn cầu hóa. Điều đó cho thấy, mong muốn trở lại với Islam giáo thời Nhà Tiên tri và giai đoạn bốn vị Caliph đầu tiên là điều bất hợp lí. Những tư tưởng luật pháp cơ bản của Islam giáo là đúng đắn, nhưng chúng cũng cần phải được điều chỉnh cho thích hợp với hoàn cảnh đã thay đổi hiện nay. Điều thiết yếu là người Muslim nên học cách chung sống với những đổi thay của thế giới, trong khi vẫn duy trì được đức tin cơ bản.
Người Muslim cũng cần phải suy xét nhiều hơn về vị trí của Islam giáo trên thế giới. Để Islam giáo có vị trí thích đáng trong một thế giới đa tôn giáo, người Muslim cần có sự đánh giá rộng rãi sự chân thực ở các tôn giáo khác. Đối thoại giữa các tôn giáo là xu thế chung trên thế giới hiện nay dù ở các cấp độ chính thức hay không chính thức. Sự hợp tác giữa các tôn giáo có thể cải thiện các vấn đề quốc tế./.
Nguồn : Tạp chí nghiên cứu tôn giáo

Chú thích ;
1. Gordon D. Newby, A Concise Encyclopedia of Islam, Oneworld Oxford, England, 2002, pg 63. Nguyên gốc, thuật ngữ này được áp dụng cho những tín đồ Tin Lành Mĩ ở thế kỉ XIX, những người phản ứng một cách mạnh mẽ đối với những hiểm họa của quá trình hiện đại hóa. Dần dần thuật ngữ này được áp dụng cho các nhóm tôn giáo phản đối một cách khắt khe những thay đổi trong thế giới hiện đại. Khi áp dụng cho Islam giáo, thường được hiểu đồng nghĩa với sự khủng bố, và vì sự hiểu sai lệch này cùng với các nghĩa tiêu cực khác, nhiều học giả phản đối việc áp dụng thuật ngữ này đối với Islam giáo. Một số học giả nhìn nhận chủ nghĩa chính thống là một phần hành động của những người cải cách vẫn đang tiếp diễn trong lịch sử Islam giáo, trong khi một số học giả khác lại cho rằng, đó chỉ là một phong trào của những người theo chủ nghĩa hiện đại. Dù có nguồn gốc từ phương Tây, thuật ngữ này đã được dịch sang tiếng ảrập: Usuliyyah hoặc Salafiyyah.
2. Gordon D. Newby. A Concise Encyclopedia of Islam. Oneworld Oxford, England, 2002, pg 69. Thuật ngữ dùng để chỉ hình phạt cho các loại tội nhất định được đề cập trong kinh Koran hoặc trong giáo luật (Shariah), chẳng hạn như tội cướp giật, trộm cắp, uống chất gây say, tố cáo sai sự dâm ô, tội ngoại tình hoặc gian dâm. Hình phạt được chia thành các khung bậc khác nhau, từ xử tử tới phạt roi.
3. Said E. Orientalism. London, 1978, pg 39.
4. Maslahah: nguyên tắc trong Shariah về lợi ích hoặc công bằng xã hội, tùy theo hoàn cảnh và yêu cầu mà có thể được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu của người Muslim ở bất cứ thời đại nào; shura: thuật ngữ để chỉ một ủy ban cố vấn. Đó cũng là cái tên để chỉ ‘Ban’ lựa chọn Uthman làm Caliph; ijma: sự đồng thuận - một yếu tố để tiến hành phép loại suy (ijtihad) tạo nên nguồn giáo pháp học. Theo luật Islam giáo kinh điển, sự đồng thuận của tất cả các luật gia tạo nên một trong những nguồn chủ yếu của giáo luật. Xem cuốn A Concise Encyclopedia of Islam, … Sđd.
5. Husein Nasr. Traditional Islam in the Modern World Islam. NewYork, 1987, pg 98. Dẫn theo cuốn Tôn giáo và đời sống hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã hội, tập II, 1997, tr 44.
6. Tôn giáo và đời sống hiện đại. Viện Thông tin khoa học xã hội, tập II, 1997, tr 47.
7. Đặt theo tên ngôi trường ở Deoband, cách Delhi 90 dặm về phía đông bắc, được thành lập năm 1867 để cải cách Islam giáo ở ấn Độ
8. Trích theo: Nguyễn Đức, Thế Trường, Lê Yên. Hồi giáo, Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2002, tr 92.

Tội Tổ Tông Và Phong Trào Phục Hưng

Tội Tổ Tông Và Phong Trào Phục Hưng
(trích "Lịch Sử Đầy Máu của Âu Châu Bị Che Giấu")
Tác giả: Takahiko Soejima
TP Thanh Tâm lược dịch

Tư tưởng về “tội nguyên sơ (tội tổ tông) của con người” là tư tưởng uy hiếp loài người do tập đoàn Ca Tô Rô Ma tàn ác khởi xướng. Họ đang uy hiếp toàn thể nhân loại.
Trích từ sách “Lịch Sử Đầy Máu của Âu Châu Bị Che Giấu”. Tác giả: Takahiko Soejima (Nhật Bản)
Phong trào Phục Hưng (Renaissance) là công cuộc vận động tư tưởng chính trị do giới trí thức khởi xướng và phát động trong niên đại 1400 với nhiều khích động.
Medici là một tài phiệt người Ý giàu có bậc nhất tại Châu Âu, hơn cả các vua chúa thời bấy giờ. Gia tộc này đã là nguyên động lực khơi mào cho vận động tư tưởng Phục Hưng. Gia tộc Medici đã có đóng góp rất quan trọng trong vận động Phục Hưng này.  Trong vận động tư tưởng Phục Hưng tại Âu Châu thì nước đóng vai trò trung tâm không phải là Anh, Pháp hoặc Đức, mà chính là nước Ý.
Một cách khái quát thì lịch sử cận đại của Châu Âu có thể tóm gọn vào cuộc chiến tàn nhẫn đẫm máu giữa thế lực quyền thế là Giáo Hội CaTô mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican tại Rome với giới trí thức đương thời. Đây là cuộc chiến về tư tưởng và tôn giáo của thời cận đại Âu Châu.
Sự tàn ác của Ca Tô Rô Ma giáo
Người viết suy luận rằng Giêsu Kitô là nhân vật có thật, và có thể là người có tâm thiện. Tuy nhiên, những lời giảng trong Thánh kinh được Giáo Hội Ca Tô Rô Ma chủ trương cho là của Giêsu Kitô với mục đích để họ lợi dụng, làm bình phong làm mưa làm gió trong suốt 2000 năm nay.  Ca Tô Rô Ma thật sự là tập đoàn ngụy thiện (đạo đức giả).
Phục Hưng là vận động tư tưởng mới, bắt đầu từ gia tộc tài phiệt Medici. Từ năm 1430, Lão ông Cosimo và người cháu là Lorenzo Magnifico trong gia tộc tài phiệt này đã khởi xướng tư tưởng chủ nghĩa tân Platon (Neoplatonism) và được giới trí thức hưởng ứng nhiệt liệt. Nhưng cho đến năm 1498,  tất cả những thành viên trọng yếu của phong trào vận động tư tưởng này đều lần lượt bị giết. Từ năm 1439,  giai đoạn khởi đầu phong trào này phát triển mạnh mẽ, nhưng dần dần về sau , chỉ khoảng trong vòng 60 năm, những trí thức tham gia cuộc vận động đều bị giết theo cách giống nhau. Họ lần lượt bị thủ tiêu, biến mất trên thế gian. Vận động tư tưởng này cũng bị lụi tàn theo.  Tuy nhiên, chính nhờ vận động tư tưởng này, với công sức lớn lao của Lorenzo và Cosimo đã châm ngòi  cho cuộc vận động phơi bày sự tàn ác, đạo đức giả của Ca Tô Rô Ma.
CosimoDeMedici Portrait by Jacopo Pontormo Lorenzo de' Medici, portrayed by Elliot Cowan
Bên trái: Cosimo De Medici, tranh của họa sĩ Ý Jacopo Pontormo -
Bên phải: Lorenzo de' Medici, tranh vẽ của Elliot Cowan
Từ đó cho đến ngày nay, trải qua hơn 500 năm, có thể nói rằng lịch sử của Âu Châu được cô đọng trong 60 năm này. 60 năm không đơn thuần chỉ là lịch sử, mà còn là giai đoạn  để giải thích cho câu hỏi: cận đại Âu Châu là gì? Nó nói lên điều gì?. Nó nói lên tất cả những tội ác xảy ra tại Florence trong suốt 60 năm.
Trong giai đoạn này, những thành phần trí thức tại Florence đã trực diện với thế lực căn nguyên của sự tàn ác là Ca Tô Rô Ma. Họ đã dũng cảm, không ngừng nghỉ, hết lớp người này đến lớp người khác đứng lên tố cáo tội ác, được che giấu bên trong  lớp vỏ đạo đức giả tạo của thế lực này. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là những người trí thức tranh đấu lần lượt thất bại, vận động suy yếu dần để rồi bị triệt tiêu bởi tập đoàn Ca Tô Rô Ma.  “Phục Hưng (Renaissance)” là khẩu hiệu được lan truyền rộng rãi trong tầng lớp trí thức trong giai đoạn này,  nhưng mãi cho đến sau thế kỷ 19 mới được nhận thức (đánh giá) lại về giá trị của nó.
Lão ông Cosimo là nhà tài phiệt hiếu học. trong những năm 1400, ông tích cực tham gia các buổi giảng thuyết của các học giả người Hy Lạp đến từ Constantinople . Từ đó, ông nhận ra được sự thật là: “Giáo hội Ca Tô Rô Ma là tập đoàn nói láo trắng trợn”.
Sự thật và lừa dối ở đây là gì? Nói tóm gọn cho dễ hiều là: con người được sinh ra trên thế gian này không phải là do tội ác, họ không có tội gì. Sự sống của con người tự nó không ác, cũng không gây ra tội lỗi. Vì vậy, mọi ngưòi có quyền được sống thoải mái, hạnh phúc. Đây là sự thật.Nhưng ngược lại, Giáo hội Ca Tô Rô Ma chủ trương rằng “ tất cả con người khi được sinh ra đều có tội. Con người suốt cuộc sống phải mang theo bên mình tội lỗi. Vì vậy, họ cần phải trả nợ tội lỗi cho đến chết. Cả sau khi chết cũng vẫn tiếp tục trả nợ tội lỗi. Theo họ Giêsu Kitô đã chết để chuộc tội lỗi cho loài người. Đây là lời giảng của Ca Tô Rô Ma. Điều này cho thấy sự nói láo trắng trợn của họ . Sự nói láo này là căn nguyên của mọi tội ác.
Ca Tô Rô Ma giáo truyền dạy (con chiên) hãy luôn xướng đọc câu: Repent!, Repent! (hãy ăn năn! hãy ăn năn!). Thực tế, đây là câu nói dùng để uy hiếp con người.
Saint Paul by Bartolomeo Montagna
↓ Tội tổ tông (original sin) - một sáng tác của St Paul
“Tội lỗi nguyên sơ” có nghĩa là con người khi được sinh ra trong thế gian này tự nó đã là đại tội (người đi đạo thường gọi là “tội tổ tông”). Vì vậy cần phải rửa tội. Phải luôn luôn hối lỗi suốt cuộc đời. Suy  kỹ thì đây là tư tưởng vô lý, không căn cứ, không thể chấp nhận được.
Đây là tư tưởng lừa dối ác đức cơ bản nhất của giáo hội Ca Tô Rô Ma , vì rằng  sự thực là sự sống tự nó không có tội ác nào.
Người đề xướng tư tưởng “tội tổ tông” không ai khác là (thánh) Paul (Paulo, c. 5 – c. 67), chứ không phải Giêsu Kitô. Ngoài ra, Peter cũng là người chủ xướng tư tưởng này.
Tóm lại, như trình bày ở trên, giáo hội Catô Rôma là tập đoàn ác đức nhưng luôn ngụy thiện (đạo đức giả) để tiếp tục lừa dối con người.
Ghi chú của người dich:
Chủ nghĩa Tân Platon (Neoplatonism) là trào lưu tư tưởng chịu ảnh hưởng của Plotinus. Lấy tư tưởng Platon (Platonism) làm chủ thể và thống hợp những tư tưởng cổ đại như New Pythagoreans, Stoics, Aristotle, etc. để hình thành hệ tư tưởng siêu việt và có tính siêu hình huyền bí.
Trong tư tưởng Ai Cập, có sự tồn tại của hai thực thể (substances). Một là lãnh vực của khái niệm, tinh thần, tâm lý, hình tướng… Và thứ hai là vật chất bao gồm cá thể và tổng thể vật chất. Vì các thực thể độc lập với nhau nên giữa lãnh vực tinh thần và lãnh vực vật chất không có tồn tại một trung gian nối kết hữu hiệu nào. Xuất phát từ tư duy này, triết lý triển khai lý luận đã cókhuynh hướng đối nghịch (đối lập) giữa tinh thần và vật chất.
Chủ nghĩa tân Platon được hình thành và phát triển từ Alexandria (Ai Cập)và lan rộng qua nhiều địa vực khác. Tân Platon nhấn mạnh về  sự trọng yếu của tinh thần, quan niệm. Theo chủ nghĩa này thì tinh thần, quan niệm là thực thể chân thật, là bản chất quan trọng hơn vật chất. Trên cơ sở này thì đối với người có tư tưởng Tân Platon, họ không coi trọng vật chất, mà tập trung vào tinh thần nên dễ nhận biết kẻ lường gạt).
(Trần Phan Thanh Tâm lược dịch, 15/2/2015)

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Luật Im Lặng - Và Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước (Lý Thái)

I. Người đàn bà 2000 năm trước.
Do Thái cũng như các xứ Trung Đông thời trước có một loại án tử hình là ném đá tội nhân. Công chúng sẽ ném đá vào người có tội cho đến khi người ấy chết. Câu chuyện Người đàn bà ngoại tình (Pericope Adulteræ) trong Tân ước, Phúc âm Gioan  8, 1-11 được kể như sau. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái (là những người mà Giê-su không ưa và luôn luôn đả kích) dẫn đến ông một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Rồi họ hỏi ngài:"Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?"   Vì họ cứ hỏi mãi, nên Giê-su đáp: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi."
Bài Phúc âm này được giảng cho giáo dân đạo Ca-tô hiểu như là một gương nhân từ của Chúa Giê-su.
Vào thế kỷ thứ 5, khi Giáo Hoàng Sixtus III (432 – 440) dụ dỗ một cô nữ tu bị đem ra xử, ông đã biện hộ được bằng cách viện dẫn lời Chúa như sau:
“Ai trong các ngươi là người không có lỗi thì ra ném đá trước tiên”
“Let him who is without fault among you throw the first stone” (Peter de Rosa, Vicar of Christ (Dublin, Ireland, Poolbeg Press Ltd, 2000), trang 403
Câu biện hộ trên trở thành một lá bùa hộ mệnh cho giáo hội La Mã và là một lá chắn cho các tu sĩ tha hồ hành đạo (dâm tặc) trong lịch sử giáo hội ngày nay.
II. Cấm ngoại thủy không ai được biết (*)
Thật vậy, mục đích của Giáo Hội khi chủ trương duy trì đời sống độc thân của các linh mục  không phải là vì bảo vệ sự thanh khiết.  Trong mục “Giáo Hội Có Tôn Trọng Sự Trinh Bạch Hay Không?” Chương 16 – 2 trong đại tác phẩm   “Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác” , Giáo Sư Nguyễn Mạnh Quang nói rằng:
Điều kiện đòi hỏi tu sĩ phải sống trinh bạch: Đây chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi dùng để lừa bịp người đời mà thôi.
Đối với các ngài tu sĩ: Sự thật như thế nào, lịch sử đã nói rất nhiều về đời sống bê bối, thối tha của những vị chức sắc cao cấp nhất trong Giáo Hội mà chúng tôi đã trình bầy tương đối đầy đủ trong Chương 13 (Mục IV) ở trên. Độc giả cũng có thể theo dõi tin tức do các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ và các nước khác loan truyền từ đầu năm 2002, nói về các ông tu sĩ Da-tô ở Hoa Kỳ liên hệ và can tội loạn dâm, sờ mó trẻ em nam nữ một cách bất bình thường. Nếu cần, độc giả cũng có thể làm một chuyến đi "thăm dân cho biết sự tình". Đến cộng đồng con chiên nguời Việt ở thành phố Portland (Oregon), một thành phố lớn đứng hàng thứ nhì ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ, hỏi thăm về đời sống "trinh bạch" của ngài mang chức thánh Cao Đ Minh và hỏi tại sao Ngài lại bỏ Chúa, bỏ nhà thờ, âm thầm lặng lẽ ra đi không một lời từ giã con chiên của Ngài. Sau đó, quý vị quá bộ xuống đến thăm cộng đồng con chiên người Việt ở Houston, Texas hỏi thăm họ về đời sống "trinh bạch" của hai ngài mang chức thánh là Đào Quang Ch và Nguyễn Hũu D. Tiếp theo, xin mời quý vị nên đến thăm cộng đồng con chiên trong thành phố Chicago (Illinois) để tìm hiểu về nếp sống "trinh bạch" của ngài mang chức thánh Trịnh Thế H. xem ra sao. Nếu có rộng thì giờ, xin quý vị làm một chuyến viễn du tới Orange County, California, mời bà Bích Ngọc cùng đến thăm Linh-mục Trần Công Nghị để nhờ ngài giảng về hai chữ "trinh bạch" và "sống nghèo khổ".
Sau những chuyến viếng thăm này, nếu còn thì giờ, quý vị cứ tiếp xúc với bất kỳ Linh-mục nào trong số các ngài mà Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn đã nêu đích danh trong hai tờ Tận Thế Số Ra Mắt, ngày 15/6/2002 và Tận Thế Số 2, ngày 15/7/2002 để biết rõ "đời sống trinh bạch" của các ngài "mang chức thánh" người Việt của Giáo Hội La Mã.
Đối với giáo dân: Trong thực tế, Giáo Hội và các chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội chẳng bao giờ tôn trọng "trinh tiết" hay sự "trinh bạch" của nữ giới. Các tài liệu lịch sử nói về đời sống bê bối thối tha trong giáo triều Vatican, cũng như những vụ tai tiếng về loạn dâm bùng nổ ở Hoa Kỳ từ tháng 1/2002 cho đến nay (2009) là bằng chứng rõ rệt cho sự kiện này.
Nhưng đó chỉ là những chuyện lẻ tẻ. Những chuyện đã bị bể khắp nơi từ cả chục năm nay, dù báo chí đã hết sức kềm chế, cũng đã lần lượt phanh phui liên tục những chuyện tội lỗi của các Chúa thứ hai, không thể nào gom lại hết được. Không thể kể cho xiếc. Nhưng còn biết bao nhiêu trường hợp các “Chúa thứ hai” bị “lộ hàng”, rồi được Giáo Hội thuyên chuyển nơi khác để tiếp tục làm các “phép bí tích” cho đên khi lộ tích thì lại đi nơi khác. Trên thế giới này còn rất nhiều nơi để các Ngài “làm sáng danh Chúa” trong phòng tốimột cách an toàn vì có “Chúa che chở.” Bạn đọc có thể xem sơ qua một số trường hợp được tóm tắt ở mục III tiếp theo đây.
Thật vậy, các linh mục được có một qui chế ngầm, cho phép “có chị bếp” như một quyền lợi xứng đáng thu hút các “chủng sinh” chịu để cho “Chúa gọi”, và giữ chân các Cha trên con đường “vì tôi là linh mục”. Chính chủ trương được ban và được hưởng “phúc thiên đàng” nơi các phòng tối đó đã lôi cuốn sự thèm thuồng  của các con cừu đực. Còn gì hơn,  cừu được mọi người chấp tay cúi đầu bẩm thưa, cừu sẽ được gọi là Cha, được cao lương mỹ vị, rượu thịt đầy bụng, cừu khỏi lo sinh kế cho bản thân cũng như cho bất cứ ai, lại còn được tự do bắt chước Thánh Linh đã làm đối với cô Mary mà không cần có trách nhiệm về tinh thần lẫn vật chất.  Khi “làm thế”, cừu được quyền nói với các con chiên Mary rằng đó là “ý Chúa”. Tuy nhiên, cừu  phải khéo léo, “cấm ngoại thủy không ai được biết” để khỏi biến “bí tích” thành “lộ tích”.  
Nếu vì lý do gì bắt buộc  phải bãi bỏ qui chế “độc thân”, sau những hôn lễ hoàng tráng của các linh mục cưới vợ, thì hậu quả tức tốc là tài sản của Giáo Hội sẽ biến đi theo các chị Mary. Không có con cừu cái nào ngu đến đỗi không biết nắm chặt hầu bao của ông xã mình. Giáo Hội La Mã tiên đoán được “lòng người” như thế, nên không thể cho các linh mục cưới vợ. Do đó, cách duy nhất là tiếp tục bao che, mặc dù cứ phải lúng ta lúng túng để bao che. (Xem lý do không thhẻ cho linh mục lấy vợ trong bài “Nguyên Nhân Và Hậu Quả Của Việc Cưỡng Bách Tu Sĩ Phải Sống Độc Thân” của tác giả Nguyễn Mạnh Quang)
Vừa bao che vừa cấm tiết lộ bằng luật im lặng (silence code) để bảo vệ thanh danh, một thanh danh thực tế không hề có.
III. Bây giờ phải tính làm sao?
Nhưng, nhân loại ngày một tiến, ít nhất một số lớn các con chiên Âu Mỹ ngày một ý thức được nhân quyền, và “ý Chúa” cũng được "nghiên cứu" lại.  Vì thế, dần dần, người ta bắt đầu tố cáo “Chúa thứ hai”.  Luật "Im lặng" ở vào thế thụ động. Tức là các con chiên không giữ được luật này, thì các Chúa thứ hai phải giữ im lặng đến nước nào hay nước đó vậy. Một vài trong số muôn vàn vụ lộ hàng được ghi nhận như sau:
....
Không thể chịu đựng nổi, Liên Hiệp Quốc mới ra tay bắt các chủ chăn ra điều trần. Xin đọc bản tin trên BBC“Vatican điều trần trước LHQ về ấu dâm”  
Ủy ban Quyền trẻ em (UNCRC) dự kiến sẽ đưa ra rất nhiều câu hỏi. Đây là lần đầu tiên Vatican phải tự biện hộ trước công luận.
Họ sẽ phải đối diện với cáo buộc rằng họ đã tạo điều kiện cho hàng ngàn trẻ em bị lạm dụng bằng cách bảo vệ cho các linh mục ấu dâm.
Tháng Bảy năm ngoái, UNCRC đã yêu cầu cung cấp chi tiết về tất cả các vụ ấu dâm đã được báo cáo lên Vatican kể từ năm 1995.
Các câu hỏi chất vấn bao gồm có hay không việc các linh mục phạm tội ấu dâm vẫn được phép tiếp xúc với trẻ em, đã có hành động pháp lý nào với các linh mục phạm tội nào không và liệu những người tố cáo có bị buộc phải giữ im lặng hay không.
Giáo Hoàng Francis bị áp lực bởi Ủy ban của Liên Hiệp quốc phải có hành động về các trường hợp  linh mục  lạm dụng tình dục. Một ủy ban của Liên Hiệp quốc nồ Giáo Hoàng Francis và Tòa Thánh vì các chính sách của Giáo hội Ca-tô toàn cầu về lạm dụng tình dục, đồng tính luyến ái, ngừa thai, và phá thai.
Các quan chức Vatican phản pháo trở lại bằng cách nói rằng họ hối tiếc rằng nỗ lực của ủy ban đã can thiệp vào các giáo lý không được bàn cãi của giáo hội.
Bản tin của tờ nhật báo điện tử New York Daily (nydailynews.com) mới đây có tường thuật kết quả cuộc họp điều trần về nạn lạm dụng tình dục của giới linh mục, tóm lược như sau:
“ Theo bản tin từ VATICAN CITY (AP) [1]
Mới hôm thứ Tư ( ngày 05 tháng 2, 2014) Giáo Hoàng Francis bị áp lực phải trừng phạt các giám mục đã che chở các linh mục ấu dâm khi  ủy ban của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền cáo buộc Vatican chỉ lo bảo vệ danh tiếng của mình thay vì tìm ra  sự an toàn của trẻ em.
Trong một báo cáo gay gắt làm nạn nhân hồi hộp và làm choáng váng Vatican, Ủy ban Liên hiệp quốc cho biết Tòa Thánh duy trì một "luật im lặng", cho phép các linh mục lạm dụng tình dục hàng chục ngàn trẻ em trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ qua mà vẫn được miễn tội.
Trong số những điều khác, hội đồng kêu gọi Vatican phải lập tức loại bỏ tất cả các linh mục đã được biết rõ hoặc nghi ngờ là quấy rối trẻ em, phải mở tài liệu lưu trữ về những người lạm dụng và các giám mục nào đã che chở cho họ, và đem nạp các vụ kiện về lạm dụng cho các cơ quan luật pháp để điều tra và truy tố.
Uỷ ban chủ yếu gạt qua một bên các tuyên bố của Vatican rằng đã thành lập biện pháp bảo vệ mới, và ủy ban vẫn buộc tội Giáo hội Ca-tô La Mã vẫn còn chứa chấp tội phạm.
A file photo shows (left to right) chairperson Norwegian Kirsten Sandberg, Vatican's UN Ambassador Monsignor Silvano Tomasi and Former Vatican Chief Prosecutor of Clerical Sexual Abuse Charles Scicluna at the start of questioning over clerical sexual abuse of children at the headquarters of the United Nations (UN) High Commissioner for Human Rights.
FABRICE COFFRINI/AFP/GETTY IMAGES
(từ trái sang phải) Kirsten Sandberg, chủ tịch Na Uy; Đức ông Silvano Tomasi, Đại sứ của Vatican tại Liên Hiệp quốc; và Charles Scicluna, cựu Trưởng Công tố viên của văn phòng Lạm dụng tình dục của Vatican.  Lúc bắt đầu đặt câu hỏi về lạm dụng tình dục trẻ em trong giới tu sĩ  tại trụ sở của  Cao Ủy Liên Hiệp quốc và Nhân Quyền.
Ngôn ngữ châm chích làm Vatican ngạc nhiên và đặt họ vào tình trạng báo động, kiểm soát, với các quan chức bảo vệ mạnh mẽ Giáo Hội và cáo buộc Ủy ban đã bị lung lạc bởi tư tưởng của những người ủng hộ đồng tính. Vatican, tự biện hộ tại một buổi điều trần Ủy Ban của Liên Hiệp quốc vào tháng trước, cho biết ủy ban đã bỏ qua các biện pháp Tòa Thánh đã thực hiện để bảo vệ trẻ em.
Dù sao, bản báo cáo cũng gây áp lực buộc Giáo Hoàng Francis phải có hành động quyết định sau một năm mà ông (Giáo Hoàng) đã để cho hồ sơ lạm dụng bị bỏ qua một bên trong khi ông chỉ lo giải quyết những vấn đề bức xúc khác, thí dụ chẳng hạn như cải cách bộ máy hành chính của Giáo Hội.
Vatican's UN Ambassador Monsignor Silvano Tomasi (L) speaks with Former Vatican Chief Prosecutor of Clerical Sexual Abuse Charles Scicluna.
FABRICE COFFRINI/AFP/GETTY IMAGES
Trước đây, Vatican đã cố gắng “rửa tay” khỏi những tuyên bố về lạm dụng bằng cách khẳng định rằng các linh mục lạm dụng thuộc thẩm quyền của các quốc gia riêng của họ. Nhưng ủy ban của Vatican tại Liên Hiệp quốc  phải chịu trách nhiệm một cách công bằng.
Pope Francis created a sex abuse commission in December, but hasn’t released many details since the announcement.
ALESSANDRA TARANTINO/AP
Giáo Hoàng Francis đã lập ra một ủy ban lạm dụng tình dục vào tháng Mười Hai, 2013, nhưng đã không phổ biến nhiều chi tiết kể từ khi thông báo.
Tại một cuộc họp báo ở Geneva, Chủ tịch Ủy ban Kirsten Sandberg đang bực mình một số kết quả chính yếu đã tìm thấy là: các giám mục đã thuyên chuyển các linh mục ấu dâm từ giáo xứ này đến giáo xứ khác chứ không chịu báo cáo với cảnh sát, rằng các tội phạm vẫn đang được tiếp xúc với trẻ em, và rằng Vatican chưa bao giờ ra lệnh các giám mục báo cáo các trường hợp lạm dụng cho cảnh sát.
Barbara Blaine, chủ tịch của nhóm nạn nhân Mỹ, SNAP nói: "Báo cáo này đã đem lại hy vọng cho hàng trăm ngàn người đã bị tổn thương sâu sắc và vẫn còn nạn nhân đang bị các giáo sĩ lạm dụng tình dục trên toàn thế giới," 
"Bây giờ nó tùy thuộc vào các quan chức thế tục có chịu tiếp nối theo sau Liên Hiệp quốc và đứng ra  bảo vệ nạn nhân vì các quan chức Vatican không có khả năng cũng như không muốn làm như vậy."
Ủy ban của Liên Hiệp quốc lại áp lực lên Giáo Hoàng Francis phải thành lập một ủy ban tại Vatican để cứu xét các cáo buộc lạm dụng tình dục trong Giáo Hội.
Ủy ban cốt yếu là buộc Vatican chịu trách nhiệm cho tất cả các linh mục, giáo xứ và trường học Ca-tô trên thế giới, kêu gọi Vatican bồi thường cho tất cả các nạn nhân bị lạm dụng tình dục trên toàn thế giới, và cũng để những người lao động trong công ty giặt khét tiếng có tên Magdalene Laundries ở Ái Nhĩ Lan, các cơ sở lao động do Giáo Hội làm chủ, nơi các phụ nữ trẻ là đối tượng làm nô lệ lao động, và thường thường trong đó là các trẻ con ngoại hôn bị họ bắt vào.
Trong khi Vatican đã không ra mặt phản đối với bản báo cáo, nhưng những người ủng hộ giáo hội  đã làm.
Các quan chức Vatican đã nói rằng Giáo Hoàng Francis sẽ buộc các giám mục có trách nhiệm hơn
Khuyến nghị của ủy ban tuy không có tính cách ràng buộc và không có cơ chế thực thi. Nhưng ủy ban yêu cầu Vatican thực hiện và báo cáo lại vào năm 2017. "
IV. Kết luận
Người mình có câu: "Hễ không muốn ai biết thì đừng có làm". Nhưng Giáo Hội Ca-tô đã ỷ vào sức mạnh, từ biết bao lâu đã "cứ làm" và "cấm nói",... Bây giờ thì ai cũng rõ, nếu nói ra bất lợi cho các Ngài thì bị chụp mũ, tội dị giáo, tội phù thủy, tội Cộng sản, hoặc bị bệnh tâm thần, điên khùng,... để rồi kết thúc mạng sống con người một cách độc ác. Thế là, trong một thời gian dài đăng đẳng mấy trăm năm, việc "cấm ngoại thủy không ai được biết" đã có hiệu quả vô cùng. Bây giờ thì những hình cụ dã man không thể dùng nữa, tuy rằng những trò chụp mũ ác độc vẫn còn, nhưng quyền lực của Tòa Thánh ngày một giảm sút, cho nên một số con chiên không thể im lặng nữa.
Một khi luật im lặng bị các con chiên không tuân thủ, thí các Cha bị lộ hàng. Lộ hàng thì phải đương đầu với phê phán, nếu chưa đem họ ra được pháp luật. Chính đây là lúc các Ngài thôi không dám "phê phán ai", vì "sẽ bị phê phán."
Không còn nghi ngờ gì nữa, bây giờ, một khi các Ngài dùng câu “Ai trong các ngươi là người không có lỗi thì ra ném đá trước tiên” trong Phúc âm Gioan  8, 1-11, người ta lại phải đặt dấu hỏi:
Các Ngài có đúng là dạy “nhân từ” cho loài người, hay là đang muốn xí xóa các tội nào đó của các Ngài?  
Chuyện “Người đàn bà 2000 năm trước” nay đã  trở thành chuyện “Ngưới linh mục trong giáo hội Vatican ngày nay.” Câu bùa chú này có còn linh nghiệm nữa hay không còn tùy trình độ ý thức của các con chiên đối với vấn đề nhân quyền và tự do trong trào lưu tiến hóa của nhân loại.
Lý Thái

Ghi chú:
(*) Một câu trong bài thơ ""Đánh Cờ Người" của cố thi sĩ Hồ Xuân Hương
[1] Wednesday, February 5, 2014, 6:58 PM
Pope Francis pressured by U.N. committee to act on priest sex abuse cases
A U.N. committee blasted Pope Francis and the Holy See for the global Catholic Church’s policies on sex abuse, homosexuality, contraception, and abortion. Vatican officials shot back by saying they regret the committee’s attempt to interfere with the Church’s non-negotiable teachings.
VATICAN CITY (AP) — Pope Francis came under new pressure Wednesday to punish bishops who covered up for pedophile priests when a U.N. human rights panel accused the Vatican of systematically protecting its reputation instead of looking out for the safety of children.
In a scathing report that thrilled victims and stunned the Vatican, the United Nations committee said the Holy See maintained a "code of silence" that enabled priests to sexually abuse tens of thousands of children worldwide over decades with impunity.
Among other things, the panel called on the Vatican to immediately remove all priests known or suspected to be child molesters, open its archives on abusers and the bishops who covered up for them, and turn the abuse cases over to law enforcement authorities for investigation and prosecution.
The committee largely brushed aside the Vatican's claims that it has already instituted new safeguards, and it accused the Roman Catholic Church of still harboring criminals....
The stinging language surprised the Vatican and put it in damage-control mode, with officials strongly defending the church and accusing the committee of allowing itself to be swayed by pro-gay ideologues. The Vatican, which defended itself at a U.N. committee hearing last month, said the panel ignored the measures the Holy See has already taken to protect children.
..
Nevertheless, the report puts pressure on Francis to take decisive action after a year in which he has largely let the abuse portfolio fall by the wayside as he tackled other pressing issues, such as reforming the Vatican bureaucracy.
At a news conference in Geneva, committee chairwoman Kirsten Sandberg ticked off some of the core findings: that bishops moved pedophile priests from parish to parish rather than reporting them to police, that known abusers are still in contact with children, and that the Vatican has never required bishops to report abusers to police.
"This report gives hope to the hundreds of thousands of deeply wounded and still suffering clergy sex abuse victims across the world," said Barbara Blaine, president of the main U.S. victims group, SNAP.
"Now it's up to secular officials to follow the U.N.'s lead and step in to safeguard the vulnerable because Catholic officials are either incapable or unwilling to do so."
Critically, the committee rejected the Vatican's longstanding argument that it doesn't control bishops or their abusive priests.
The panel essentially held the Vatican responsible for every priest, parish and Catholic school in the world, calling on it to pay compensation to all victims of sexual abuse worldwide, and also to those who labored in Ireland's notorious Magdalene Laundries, the church-run workhouses where young women were subject to slave labor and often had their out-of-wedlock babies taken from them.
While the Vatican itself didn't raise an objection to that aspect of the report, other church advocates did.
The committee's recommendations are non-binding and there is no enforcement mechanism. But it asked the Vatican to comply and report back by 2017.