Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Đừng Đặt Các Linh Mục Lên Bệ Thờ (J.B. Thái Hòa chuyển dịch)

LGT (Kevin) - Nhân đọc được bài dịch nầy trên Webpage baoconggiao.net (đăng ngày 10-1-2018) nên chúng tôi xin phổ biến đến bạn đọc để cùng biết về một cuộc khủng hoảng khá trầm trọng trong lòng Giáo hội Công giáo Hoàn vũ. Bài do J.B. Thái Hòa dịch ra tiếng Việt nhưng không ghi Tựa đề ngoại ngữ, tên tác giả và nguồn nguyên bản nên không biết độ trung thực của bản dịch ra sao.
Nội dung bài nầy nhằm mô tả và phân tích hiện tượng uy quyền to lớn của cấp Giáo sĩ đối với giáo dân trong Giáo hội Công giáo để đi đến một kết luận là hiện tượng nầy đang lan tràn khắp mọi tầng giáo phẩm, ăn sâu vào tâm thức của Giáo dân và “đang làm méo mó sứ mạng mục vụ của giáo hội”. Vì tình hình đó có tính hệ thống (systematic) và có tính kết cấu quy mô (structural) nên tác giả gọi đó là một “chủ nghĩa giáo quyền”.
Sau đó, tác giả đề nghị ba giải pháp: 1- Suy gẫm lời nguyện khi thụ phong giáo phẩm, 2- Xét lại cách dùng các tước hiệu của hàng giáo phẩm, và 3- “Xem lại đời sống độc thân khiết tịnh bắt buộc”, rồi kết bài bằng lời kêu gọi hãy theo gương Giáo hoàng Phanxicô để chấm dứt chủ nghĩa giáo quyền nầy …
“Chủ nghĩa Giáo quyền” là hệ quả tất yếu của hai nguyên nhân: 
Một chính sách truyền đạo ngu dân (để nhồi sọ giáo dân từ nhỏ) và Một uy quyền thần học (được diễn giải từ một cuốn kinh “thánh” đầy mê tín dị đoan) [Hình biếm họa lấy từ Reddit/Internet]
Xin có 5 ý kiến về bài viết/dịch nầy:
1- Một cách tổng quát: Phần tác giả mô tả hiện trạng thì khá đúng với thực tế hiện nay nhưng chưa đủ, chưa thật rốt ráo. Phân phân tích thì tác giả thật sự đã có can đảm dám đề cập đến một thảm họa (vốn được lãnh đạo của Vatican dấu kín) nhưng lại thiếu đào sâu để tìm ra nguyên nhân gốc (root cause), còn Phần Giải pháp để đối trị Chủ nghĩa Giáo quyền thì quả thật quá sơ sài, đúng là “vừa đánh vừa run” …!
2- Chủ nghĩa Giáo quyền là sự trình hiện (manifestation) của nền thần học Thiên Chúa giáo.  Nền thần học nầy "dựng" ra một ông Chúa Cha độc ác, thù dai, mà lại quá nhiều quyền năng (xem Cựu Ứớc). Nền thần học nầy “bày” ra một Chúa Con Giêsu lai lịch bất minh, nói năng bất nhất, và hành trạng bất xứng (xem Tân Ước). Nền thần học nầy "tạo" ra một cấu trúc quyền lực tuyệt đối (Cha là Chúa, muốn vào nước Chúa phải thông qua Giáo hội, ...), tạo ra một đám "kiêu binh"  trong giáo triều Vatican. Nền thần học nầy xử dụng một hệ thống giáo điều phản nhân quyền, nhất là về ngôn ngữ (gọi tín đồ là con “chiên" ngay chính trong bài viết/dịch nầy), gọi tu sĩ là "Cha" là “Đức Ông”, là  “Cố”, nâng nguyên tắc "cúi đầu trong vâng phục" thành một Đức (tin), con người chỉ là "đất sét" được Chúa năn ra, và em bé mới sinh ra là đã có Tội Tổ tông rồi, etc …
3- Vì vậy, muốn giới hạn Giáo quyền thì phải duyệt lại và bỏ khoảng 80% nội dung thần học của Công Giáo và phải dẹp ngôi vị Giáo Hoàng. Mà như thế thì không còn là Công giáo nữa ... Những giáo điều tào lao, cực kỳ mê tín dị đoan như Chúa tạo ra con người, Tội Tổ tông, Thiên Đàng và Địa ngục, Chúa Ba ngôi, Mẹ Đồng trinh, Chúa Sống lại, Ơn cứu rỗi, Rữa tội, Mình Thánh chúa… thách thức tri thức thời đại và khống chế nhân phẩm con người … thì lố bịch và nhảm nhí quá, không còn dọa dẫm và lừa bịp được ai, cần dẹp đi!
4- Cách đây đúng 5 thế kỷ, năm 1517, để giới hạn Chủ nghĩa Giáo quyền, Martin Luther đã viết 99 Luận đề rồi treo trên nhà thờ ở Wittenberg bên Đức, mở đầu một phong trào Phản Thệ (Protestant) thách thức uy quyền của Giáo triều Vatican và xây dựng một đạo Chúa mới (Tin Lành). Tuy về mặt tổ chức có vẻ ít phong kiến hơn, nhưng vì vẫn còn vướng vào cuốn “Kinh Thánh” nhảm nhí nên quan hệ Mục sư-Tín hữu vẫn là một loại “Chúa và Chiên” như phía Công giáo. Do đó, tuy hiện tượng tôn giáo nầy là một biến cố lịch sử to lớn tại Âu châu, nhưng cũng chỉ là một bước rất nhỏ trong nỗ lực giải phóng con người ra khỏi sự khủng bố tri thức con người của nền Thần học Thiên Chúa giáo mà thôi!
5- Nói tóm lại: Nêu lên thảm họa “Chủ nghĩa Giáo quyền” là một hành động đúng đắn và can đảm, nhưng dẹp được các ông Linh mục ngồi chồm hổm trên bệ thờ để làm “cha” các con chiên thì chỉ là chuyện ảo tưởng! – (Kevin)
ĐỪNG ĐẶT CÁC LINH MỤC LÊN BỆ THỜ
Chủ nghĩa giáo quyền đang làm suy yếu sứ mạng mục vụ của Giáo hội.
Cuối cùng đã có một vấn đề mà giáo hội chia rẽ của chúng ta có thể nhất trí. Người Công giáo thuộc mọi phái, bảo thủ hay tự do hay trung dung, đều thấy khó chịu về chủ nghĩa giáo quyền. Từ Đức Giáo hoàng Phanxicô cho đến hàng ghế cuối trong nhà thờ, từ giáo sư chủng viện cho đến các thừa tác viên, chúng ta đều đồng ý rằng chủ nghĩa giáo quyền đang làm méo mó sứ mạng mục vụ của giáo hội.
Và chủ nghĩa giáo quyền còn củng cố luận điệu của những người theo chủ nghĩa thế tục rằng hàng giáo sỹ Công giáo chẳng khác gì những nhân viên của giáo hoàng để áp đặt sự kiểm soát đạo đức ngặt nghèo bóp nghẹt bản năng ham muốn tự do và vui thú của con người.
Vậy hãy chấm dứt chủ nghĩa giáo quyền trong giáo hội.
Chắc chắn là thế. Sự đồng thuận về chuyện này quá rõ ràng. Thế mà, tôi còn nghe có tiếng nói, “đừng làm quá nhanh.”
Khối ung thư này đang làm suy yếu thế giới Công giáo, từ các cộng đoàn địa phương cho đến các văn phòng Vatican, nó đã có từ trong quá khứ và hiện đang tồn tại trong giáo hội, một điều chúng ta cần xem xét thật kỹ lưỡng. Vậy thì hãy bắt tay xét nghiệm nó nào.
Chủ nghĩa giáo quyền chỉ cần nhìn là biết, dù là ở mức độ giáo xứ hay trên hình biếm họa về giáo sỹ. Nhưng dù cho chúng ta có nhận ra, cũng khó lòng mà định nghĩa nó.
Tôi thì thấy thế này. Chủ nghĩa giáo quyền là một thái độ có trong nhiều (chứ không phải tất cả) giáo sỹ, những người xem vị thế linh mục và giám mục của mình cao hơn vị thế môn đệ được rửa tội của Chúa Giêsu Kitô đang có trong họ. Khi làm thế, nảy sinh một tâm thức đặc quyền và tước vị trong suy nghĩ riêng và chung của các giáo sỹ. Điều này làm nảy sinh một nhóm những con người “ưu tú” trong giáo hội, nghĩ rằng mình không giống những tín hữu khác.
Giáo sỹ rơi vào cám dỗ này không thể thấy được việc đó đang làm tê hoại nhân cách của họ, tê hoại khả năng kết nối ở tầm mức con người với những nhóm người khác trong đoàn dân Chúa. Trong tất cả những hoa trái chua cay của chủ nghĩa giáo quyền, thì việc mất khả năng kết nối với tha nhân này, chính là thứ gây tai hại nhất. Khi một người được truyền chức thánh có thái độ bề trên với các giáo dân và những người mình gặp gỡ, thì vấn đề không còn đơn giản. Dạng mất liên kết này có thể là thứ tiêu diệt hết những nỗ lực của một linh mục muốn xây dựng tâm thức cộng đoàn trong giáo xứ.
Và thường giáo dân khó lòng thấy thoải mái với một linh mục giáo quyền. Nói đơn giản là họ không thấy được cách tiếp cận của một người “cha”. Cũng có thể nói như thế về các giám mục quá dễ dãi nghĩ mình như những quân vương một vùng được Chúa tuyển chọn. Mối liên hệ của các giám mục này với các linh mục và giáo dân không còn là cung cách của một mục tử.
Nơi họ không có mùi chiên.
Mà đó lại chính là những gì mà các giáo sỹ giáo quyền muốn. Họ tin rằng xa cách một chút với những người không có chức thánh là một việc phù hợp và đúng đắn. Dĩ nhiên, linh mục không cần phải chén thù chén tạc xuề xòa với giáo dân, mối liên hệ linh mục-giáo dân cần có sự trưởng thành và cẩn trọng. Hầu hết các giáo sĩ đều biết những đòi hỏi của đàn chiên mình. Chắc chắn, các giáo sĩ cần phải bảo vệ sự riêng tư của mình, và tìm thời gian “ở một mình.” Nhưng bản chất của chủ nghĩa giáo quyền là phóng đại nhu cầu này. Nó nảy sinh sự giả tạo và cấp bậc giữa các giáo sỹ và giáo dân. Như thế, là thiếu mất đi sự gì đó.
Các linh mục và giám mục (thậm chí là phó tế) dần thấy uy thế của mình trong việc cử hành bí tích và giảng dạy, chính là nền tảng căn tính của mình. Và khi đó, họ không còn thấy được sự thật rằng sức mạnh của Giáo hội xét tận cùng chính là nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Họ nói, “Chúng tôi là giáo sỹ, anh chị em thì không.”
Nhiều năm trước, khi làm tổng đại diện, tôi có nói chuyện với một viên chức giáo dân cấp bậc cao trong giáo phận, ông sợ rằng mình đang ngày càng dấn vào hệ thống này, sợ mình trở nên “như giáo sỹ” Tôi bảo ông đừng lo. Việc ông cảm nhận được mối nguy đó, chính là cái bảo vệ cho ông rồi. Chúng tôi cũng thấy được nhiều đồng nghiệp giáo dân của ông có vẻ như không thấy được mối nguy đó. Những nhân viên mục vụ giáo dân này nghĩ mình là người trong hàng ngũ giáo sỹ. Và có thể nói đúng là thế. Như những người mục vụ được truyền chức thánh, lòng trung thành ban đầu của họ giờ hướng về giáo hội và thể chế hơn là về tin mừng và các tín hữu mà họ phục vụ. Thế nên, khối u chủ nghĩa giáo quyền, không chỉ giới hạn trong các giám mục, linh mục, phó tế.
Văn hóa giáo giáo sỹ chính là cái nôi nảy sinh căn bệnh chủ nghĩa giáo quyền. Và hai cái này là hai thứ khác biệt nhau. Chúng ta phải hiểu được chuyện này, trước khi tìm cách mổ xẻ thêm về khối u chủ nghĩa giáo quyền. Hầu hết những dân lành nghề, chuyên nghiệp, đều phát triển một dạng văn hóa, một kiểu cư xử và lời nói đặc thù thể hiện đặc tính của những người trong hội. Một nền văn hóa như thế có thể vun đắp một tinh thần đoàn thể lành mạnh.
Thế nên văn hóa giáo sỹ không phải là vấn đề. Các linh mục thường nói về “huynh đệ chức thánh.” Họ cùng chia sẻ một nền đào tạo chủng viện. Họ hiểu được niềm vui và nỗi buồn trong việc mục vụ, sự tự do và cô đơn của đời sống độc thân, và trách nhiệm lớn lao của việc rao giảng Lời Chúa.
Nhưng một văn hóa giáo sỹ lành mạnh thì vun đắp sự khiêm nhượng và lòng biết ơn trong tâm hồn các phó tế, linh mục, và giám mục. Nó dẫn đưa người linh mục nói rằng, “Tôi là linh mục, nhờ ơn Chúa. Nhưng trước hết, tôi là môn đệ được rửa tội, cũng cần được mục vụ, cần được thương xót và tình bạn của các giáo dân.” Tuy nhiên, khi văn hóa giáo sỹ thổi phòng vai trò và tầm hiểu biết của các thừa tác viên có chức thánh trong đời sống giáo hội, thì nó chính là mảnh đất màu mở để khối u chủ nghĩa giáo quyền lớn mạnh.
“…khối u chủ nghĩa giáo quyền, không chỉ giới hạn trong các giám mục, linh mục, phó tế” mà còn ăn sâu mọc rể trong tâm thức và ứng xử của tín đồ Công giáo, từ xưa đến nay, từ Ta đến Tây, từ quan đến dân (như trường hợp giáo dân Ngô Đình Diệm)
Vậy chúng ta có thể làm gì để chấm dứt chủ nghĩa giáo quyền? Những bước sau sẽ xử lý khối u, hay ít nhất là giảm nhẹ đi chủ nghĩa giáo quyền:
  1. Các giám mục, linh mục và phó tế được kêu gọi bởi Tin mừng, và bởi Đức Giáo hoàng Phanxicô, phải thấy được tư cách môn đệ và việc phục vụ là nền tảng cho mục vụ chức thánh. Phép rửa cho họ mọi phẩm giá họ cần. Nhiều linh mục hiểu điều này. Nhiều người vẫn chưa hiểu. Vậy các chủng viện cần dạy cho các chủng sinh rằng tư cách môn đệ được rửa tội bén rễ trong lời nguyện chính là nền tảng căn bản cho việc mục vụ linh mục.
  2. Một số giáo sĩ nhất quyết rằng người ta phải gọi mình là “cha” hoặc là “đức cha.” (Trong tiếng Anh, có thể gọi linh mục là Father hoặc Monsignor, có thể gọi các giám mục hồng y với những tước rất uy quyền như Excellency hoặc Eminence). Các tước hiệu có vai trò của nó, nhưng ta không cần khăng khăng phải dùng nó. Chúng ta có thể thấy buồn cười khi một giáo dân cứ khăng khăng người ta phải gọi mình là bác sĩ, tiến sỹ, giáo sư, thẩm phán. Gọi một bác sĩ là là bác sĩ, thì hợp lý khi ta ở trong phòng khám hay bệnh viện, và gọi một linh mục là cha cũng hợp lý khi ở trong bối cảnh làm việc giáo xứ. Nhưng hầu hết mọi người sẽ nhíu mày khi người ta cứ nhất quyết lúc nào mình cũng phải được gọi bằng tước danh [“cha” - KT].
  3. Xem lại đời sống độc thân khiết tịnh bắt buộc. Đúng là chúng ta cũng thấy chủ nghĩa giáo quyền trong hàng giáo sỹ không độc thân của các giáo Đông phương. Nhưng những gánh nặng kéo theo đời sống độc thân, dẫn đến việc một số giáo sỹ thấy cần tước vị và đặc quyền, những nét đặc thù của chủ nghĩa giáo quyền.
Nhưng có người sẽ lập luận, chẳng phải chỉ trích chủ nghĩa giáo quyền là công kích hàng giáo sỹ? Lập luận của chất vấn này như sau: Khó lòng cường điệu hóa phẩm giá và sức mạnh thiêng liêng của chức linh mục. Cứ nghĩ về việc giáo dân thấy hình ảnh người linh mục khi dâng thánh lễ và tha tội. Một ơn gọi quá cao cả, đòi buộc người linh mục phải là người “khác hẳn.” Và khi “khác hẳn” thì cũng đi kèm với trách nhiệm và đặc quyền.
Nói cách khác, lối nghĩ này chấp nhận chủ nghĩa giáo quyền như là bản chất tự nhiên trong người linh mục Công giáo, bởi họ thuộc về một đẳng cấp thiêng liêng cao quý. Và dù cao quý thì đi kèm với bổn phận, nhưng nó còn có sự vênh vang nữa.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đáp lại lối nghĩ này bằng cách nói rằng một linh mục không phải là một người được tách riêng hẳn ra với cộng đoàn. Đức Giáo hoàng tin rằng linh mục và giám mục phải có một tâm hồn sứ mạng, một điều tương phản với kiểu tâm hồn giáo quyền. Trong tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin mừng), Đức Phanxicô đã viết rằng “một tâm hồn sứ mạng không bao giờ khép kín trong bản thân, không bao giờ lui về nơi an toàn riêng của mình, không bao giờ chấp nhận sự khắc nghiệt và thủ thế. Tâm hồn sứ mạng nhận ra rằng nó phải lớn lên trong nhận thức Tin mừng và trong nhận thức về những đường lối của Thần Khí, và nó luôn luôn làm tốt hết sức mình, ngay cả khi dẫm vào bùn đất trên đường.”
Đúng, hãy chấm dứt chủ nghĩa giáo quyền và theo gương của Đức Giáo hoàng không giáo quyền của chúng ta. Ngài liên tục nhắc nhở các giám mục, linh mục và phó tế rằng họ là những người dẫn đường cho đoàn dân lữ hành. Họ là những mục tử của lòng thương xót, với đôi giày lấm lem bùn đất.
J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Giáo hội Công giáo và chuyện “đóng góp tự nguyện”


Nhân chuyện ở một nơi nọ, giáo hội đang rầm rộ họp bàn, tập huấn để giúp giáo dân của mình đấu tranh phản đối các khoản thu phí trong nông nghiệp và các khoản thu trong các trường học, thiết nghĩ trong xã hội một tổ chức nào đó muốn hoạt động và tồn tại được thì ít nhất phải có kinh phí mà phần lớn lấy từ nguồn đóng góp của các hội viên nhằm trang trải các chi phí trong quá trình hoạt động. Có lẽ trong thực tế không có hội đoàn hay tổ chức nào mà hoạt động không cần kinh phí và hội viên khi tham gia không phải đóng một khoản phí nào bởi người ta không thể chỉ ngồi nhìn nhau ngày này qua ngày khác mà hội đoàn hay tổ chức vẫn tồn tại và phát triển được. Tổ chức tôn giáo cũng không nằm ngoài quy luật đó!
quyên góp tiền cho Đại Chủng viện Huế
Nếu bạn là một giáo dân, chắc hẳn bạn đã từng “đóng góp tự nguyện” cho giáo hội để phục vụ các hoạt động, lễ nghi tôn giáo mà tiêu biểu hơn cả là những khoản đóng góp để xây dựng nhà thờ và các công trình tôn giáo khác. Ở những xứ mà giáo dân có điều kiện kinh tế, các hộ gia đình sẽ đóng góp tiền theo tinh thần “tự nguyện” từ vài trăm cho đến vài triệu, vài chục triệu. Ở những xứ nghèo, người dân còn khó khăn về kinh tế thì giáo dân “tự nguyện” đóng góp công sức, tức là bắt tay vào làm nhân công, dùng ngày công để đóng góp. Một ngôi nhà thờ xây dựng không chỉ ngày một ngày hai mà là vài năm, giáo dân hầu như quanh năm ngoài đi làm ruộng thì cũng chỉ đi làm nhà thờ, không làm gì khác để cải thiện đời sống kinh tế của mình.
Hiện nay, hầu như linh mục nào cũng phải tiến hành xây dựng một thứ gì đó tại địa bàn mình đang phụ trách, nếu không phải là nhà thờ thì là nhà phòng, nhà giáo lý, tượng đài, khuôn viên… nếu xứ nào đầy đủ các công trình phục vụ sinh hoạt rồi thì sẽ tiến hành quy hoạch lại, hoặc xây lại do “xuống cấp”…nói chung là rất nhiều lý do được đưa ra. Có nhiều giáo dân, kể cả linh mục cũng phải thốt lên rằng tại sao ở Việt Nam lại ít nhà thờ cũ đến thế. Cũng có người nói vui rằng: tôn giáo nay cũng bị xã hội hoá rồi, chỉ cần giám định xuống cấp…LÀ ĐÚNG QUY TRÌNH!
Linh mục Ngô Văn Vàng, Chánh xứ Giáo xứ Trà Cổ, TP.Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đánh giá nhà thờ Trà Cổ xuống cấp trầm trọng nên cho phá dỡ để xây mới. Một số giáo dân tham gia quá trình phá dỡ cho biết khi phá dỡ, kết cấu bên trong của ngôi nhà thờ còn rất chắc chắn nên cảm thấy rất tiếc nuối
Cố linh mục Matthêu Lê Minh Châu từng nói: “Khi 1 Cha sở mới nhận chức thì điều đầu tiên sẽ là đập bỏ tất cả cái cũ để làm lại cái mới của mình!”
Chuyện ở giáo xứ G.L ở Bùi Chu ồn ào mấy năm trước. Linh mục quản xứ muốn dỡ nhà thờ cũ đi để làm nhà thờ mới to đẹp hơn với lý do nhà thờ đã hơn 100 tuổi rồi nguy cơ sụp đổ nguy hiểm đến tính mạng giáo dân. Vì vậy, ông cho đóng cửa nhà thờ và làm nhà bạt tạm để dâng lễ. Giáo dân không chịu vì tiếc nhà thờ cổ kính. Họ đi mời các chuyên gia xây dựng, kiến trúc về thẩm định. Kết quả cho biết nhà thờ vẫn kiên cố lắm. Vậy là giáo dân làm đơn xin trả linh mục cho Tòa Giám mục. Tòa Giám mục phải đổi linh mục mới về. Bây giờ ngôi nhà thờ may mắn vẫn tồn tại. Tâm lý thích xây nhà thờ hoành tráng không chỉ ở một số giáo sĩ mà cả ở giáo dân nữa. Một linh mục ở giáo phận miền Tây Nguyên chia sẻ, có họ đạo có 70 gia đình di cư, họ cứ đòi xây nhà thờ to dự trù lên tới hơn chục tỷ đồng. linh mục can ngăn vì dân ít chịu sao nổi. Họ bảo, chúng con xây để con cháu 100 năm nữa cũng vẫn đủ chỗ.
Tại sao các vị linh mục lại “nhiệt tình” trong việc xây dựng đến vậy? Mỗi khi xây dựng một công trình nào đó, ngoài huy động tiền bạc và công sức của giáo dân, các vị linh mục phải chạy vạy khắp nơi để xin tiền, khổ vậy sao vẫn làm, vì giáo dân ư? Phải chăng chỉ là cái lý do hợp tình hợp lý để “rút tiền” từ đàn chiên rồi mưu lợi cho cá nhân để tiêu xài, tậu xe sang, hưởng thụ…hay là chạy theo bệnh thành tích, phô trương trong giáo hội khi mà nhắc đến công lao của một linh mục người ta thường chỉ nhắc đến thành quả của vị linh mục đó sau bao năm làm linh mục là xây dựng được bao nhiêu nhà thờ, bao nhiêu công trình cho giáo hội…
Linh mục Laurenso Phạm Hân Quynh đã từng nói: mấy ông Cha lúc nào cũng nhăm nhe xây dựng nhà thờ to, nhà xứ to… mà quên đi là sứ vụ của mình là truyền giáo thì là vất đi.
Trong lúc đời sống của giáo dân 03 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình còn đang gặp nhiều khó khăn, vất vả do sự cố môi trường biển miền Trung và nhất là 2 trận lũ lụt lịch sử liên tiếp vào năm 2016. Có một vị Giám mục vẫn tiến hành khởi công xây dựng Tòa Giám mục mới với lý do đơn giản là “không thể đáp ứng đủ nhu cầu mục vụ” chứ không theo đúng quy trình là: “xuống cấp trầm trọng” hay “không đảm bảo an toàn”…. Và lẽ dĩ nhiên, tiền xây dựng đều là tiền ủng hộ, quyên góp của giáo dân. Trong khi đó ông ta lại sốt sắng và sẵn sàng chống đối chính quyền để đòi tiền đền bù sự cố Formosa cho giáo dân, mới đây lại chỉ đạo Ban Công Lý và Hòa Bình giáo phận tổ chức tập huấn cho các giáo xứ, giáo hạt trong địa phận về việc đấu tranh phản đối các khoản thu trong nông nghiệp và trong các trường học. Có lẽ mục đích của vị Giám mục này là giúp dân tiết kiệm được một khoản tiền kha khá để để đẩy nhanh tiến độ xây dựng Tòa Giám mục. Nhìn qua thì có vẻ không liên quan lắm nhưng thực tế là chỉ khi giáo dân rủng rỉnh tiền thì các vị mới có tiền ủng hộ được.
Quy hoạch trung tâm mục vụ giáo phận
Có lẽ người ta không lo xây đền thờ Chúa trong lòng mà thích phô trương ở ngoài hơn. Hình như họ không biết đến sự đóng góp quá mức của giáo dân hiện nay ngoài các khoản cho xã hội lại thêm hàng ngày hết tốp này đến tốp khác trình giấy giới thiệu của cha nọ, xứ kia để xin xây nhà thờ và có người cũng đã xin ra khỏi đạo để đỡ bị làm phiền quyên góp. Buồn cười thay, vẫn có những vị linh mục đứng lên giúp giáo dân đấu tranh phản đối việc thu các khoản phí đôi ba chục nghìn ở nông thôn, nhưng vẫn nghĩ ra đủ thứ công trình để xây dưng mặc dù chưa cần thiết rồi huy động giáo dân đóng góp công sức và tiền của, đó là chưa kể đến việc phải đóng góp các khoản “tự nguyện” để phục vụ lễ và đủ thứ hội đoàn hoạt động, giáo dân xin lễ thì cứ vẫn cứ thu tiền đều tay…
Hồi Giám mục F.x Nguyễn Văn Sang xây nhà thờ chính tòa Thái Bình. Ông kể rằng, qua Hoa Kỳ kêu gọi rồi ngửa mũ Giám mục đứng ở giữa nhà thờ nhưng chẳng ai cho xu nào. Họ nói: bên này chúng con dùng thẻ, không có tiền mặt. Hơn nữa, nếu Đức cha có dự án thì phải thông báo trước nhưng chúng con chỉ ủng hộ cho các dự án nhân đạo chứ không ủng hộ việc xây nhà thờ. Tại sao thế? Vì bên Mỹ cũng như châu Âu, tháng nào chẳng có chuyện rao bán nhà thờ bởi dân đi lễ ít lắm nên không có tiền tu sửa, bảo trì bị cảnh sát lập biên bản bắt đóng cửa và phạt tiền rất nặng nên thà bán đi còn hơn bị phạt mà “mua áo bán giẻ” thì xây làm gì? Chuyện bên Âu- Mỹ, đi đạo nào phải đóng thuế cho đạo ấy thì có lâu rồi mà thuế cũng cao lắm từ 4-6% thu nhập (riêng Tin Lành là 10% ). Nhưng lương giáo sư, ca sĩ, vận động viên của họ rất cao tới mấy trăm ngàn đô la nên nộp 4-6% cũng xót của lắm thành ra năm 2011, ở Đức có 126.488 giáo dân xin ra khỏi đạo Công giáo. Năm 2012 có 181.000 nộp đơn xin ra. Lý do chính là để khỏi phải nộp thuế cho nhà thờ thôi.
Suy cho cùng, sức chiên cũng có hạn, không thể để các ngài ”vặt lông chiên” mãi được.

Theo Chúa đập bỏ bàn thờ tổ tiên


Clip ghi lại hình ảnh một người nữ đang chỉ đạo một gia đình đập phá bàn thờ tổ tiên khi theo Chúa Giê-su và liên tục nói “Nhân danh chúa Giê-su ta phá đổ các ngươi”. Mọi tôn giáo đều hướng con người đến những giá trị chân thiện mỹ, nhưng lợi dụng tôn giáo để chà đạp lên tín ngưỡng bao đời của dân Việt Nam! Thì không chấp nhận được!


Thứ Tư, 21 tháng 3, 2018

Không có tội “tổ tông” thì cần quái gì Jesus “Cứu Chuộc”

CATÔ RÔMA GIÁO CỔ VŨ VÀ NUÔI DƯỠNG SỰ MÊ MUỘI, NGU DỐT:
“RỬA TỘI LÀ HẾT TỘI” 

(Tha tội nguyên tổ và tội riêng ta phạm)
https://www.conggiao.org/bi-tich-rua-toi/ 

Ôi, Thiệt qúa đã, thế là các “Qụa Đen, Qụa Đỏ, Qụa Trắng” tha hồ “Lắp Đít” trẻ con, “Lắp Điã” Bà Sơ, thu tiền “Phong Thánh” , Làm đủ mọi chuyện gian ác.
KHÔNG GÌ MAN RỢ BẰNG ĂN THỊT UỐNG MÁU “CHÚA” “Bí Tích Mình Thánh Chúa”
https://www.conggiao.org/bi-tich-minh-thanh-chua/ 

• Tại sao Chúa Giêsu ban cho chúng ta Thánh Thể? 
Vì Chúa muốn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, để an ủi, ban sức mạnh và làm cho chúng ta nên thánh.
• Chúa Giêsu lập bí tích này thế nào? 
Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Hãy cầm lấy mà ăn, này la Minh Ta.., hãy cầm lấy mà uống, này la Máu Ta…”
• Ðiều gì xảy ra khi Chúa Giêsu phán: “Này là Mình Ta”, “Này là Máu Ta”? 
Khi phán thì bánh và rượu liền trở nên Mình và Máu Người, chỉ còn vẻ bên ngoài là bánh và rượu thôi
• Những điều phản khoa học: 
Thiên Chúa nhận là tạo dựng ra Thế Giới mà diễn tả qủa đất và mặt trời bá láp như dưới đây nay học trò tiểu học đọc lên cũng phải cười bể bụng. Chỉ có kẻ vô trí mới còn tin là Thiên Chúa tạo dựng ra Thế Giới.

– Mặt trời thì chạy lên chạy xuống –
Ecclesiastes 1:5 NIV Bible - The sun rises and the sun sets, and hurries back to where it rises.

– Qủa đất được đặt trên cái móng cho không nhúc nhich
Psalm 104:5 NIV Bible - He set the earth on its foundations; it can never be moved.

– Quả đất có bốn góc
Revelation 7:1 King James Bible - And after these things I saw four angels standing on the four corners of the earth, holding the four winds of the earth, that the wind should not blow on the earth, nor on the sea, nor on any tree.
Isaiah 11:12 King James Bible - And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth.

– Qủa đất được đặt trên các cột – khi “Gót Cha” giận hay bực mình “Gót Cha” lắc các cột cho qủa đất rung chuyển.
Job 9:6 NIV Bible - He shakes the earth from its place and makes its pillars tremble.


Vatican tìm cách đưa ra hình ảnh mới trong mối liên hệ với khoa học
Vatican seeks to rebrand its relationship with science
http://www.cnn.com/2013/04/11/world/pope-vatican-science/index.html 
By Florence Davey-Attlee, CNN - Updated 12:09 PM ET, Thu April 11, 2013
Dropping to his knees before the 10 cardinals of the Inquisition, dressed in the white shirt of penitence, Galileo Galilei was forced to retract his "heretic" theory that the Earth moved around the Sun. Threatened with torture and interrogated for 18 days, the scientist, who was imprisoned in the 17th century, promised to never again teach the theory and spent the rest of his life under house arrest in his small farmhouse outside of Florence. Galileo's fate was very different from that of other scientists at the time of the Inquisition. Some were executed for threatening the church's teachings. Italian astronomer Giordano Bruno, an Italian philosopher who argued that the universe was infinite, was burned at the stake.

Qùy gối trước 10 hồng y của Inquisition “Toà án dị giáo”, mặc áo sơ mi trắng của sám hối, Galileo Galilei đã buộc phải rút lại lý thuyết"dị giáo" của ông rằng Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời Trước nguy cơ bị tra tấn và bị thẩm vấn trong 18 ngày, nhà khoa học, người đã bị giam cầm ở thế kỷ 17, hứa sẽ không bao giờ dạy lý thuyết và dành phần còn lại của cuộc đời ông bị quản thúc ở trang trại nhỏ của mình bên ngoài của Florence. số phận của Galileo đã rất khác so với các nhà khoa học khác tại thời điểm Toà án dị giáo. Một số đã bị giết vì đe dọa các tín điều của Giáo Hội. nhà thiên văn Ý Giordano Bruno, một triết gia người Italy cho rằng vũ trụ là vô hạn, bị thiêu sống. 

Thượng Đế Có Hiện Hữu Không?
Dưới đây là bài phỏng vấn Giáo Hoàng Francis với tờ báo Đức Die Zeit
“Empty moments”: Pope Francis has questioned God’s existence, calls himself a “sinner”
Dịch
“Những khoảnh khắc trống rỗng”: Giáo hoàng Francis đã nghi ngờ về sự hiện hữu của Thượng Đế, tự coi mình là “người tội lỗi”
Published time: 9 Mar, 2017 13:36Edited time: 10 Mar, 2017 13:05
https://www.rt.com/news/379996-pope-francis-existence-god/ 
Giáo Hoàng Francis đã nói về kinh nghiệm của ông trong những vấn đề khủng hoảng đức tin và nói về những "khoảnh khắc trống rỗng", đồng thời nhấn mạnh rằng ông là một "người tội lỗi" và "sai lầm" trong một cuộc phỏng vấn với một tờ báo của Đức.
Khi được tờ báo Đức Die Zeit hỏi liệu ông đã từng nghi ngờ sự hiện hữu của Thợng Đế, vị Giáo Hoàng nói, "Tôi nghi ngờ, trong những khoảnh khắc trống rỗng."

Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao “Chúa Dưới Trần” Francis cũng có những lúc nghi ngờ về sự hiện hữu của “Thượng Đế”?
Vì “THƯỢNG ĐẾ” chỉ là SẢN PHẨM TƯỞNG TƯỢNG.

1. Giáo Hoàng Chấp nhận tiến hóa.
Giáo Hoàng John Paul II phát biểu năm 1996:
Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.
World
Pope Bolsters Church's Support For Scientific View of Evolution
By JOHN TAGLIABUEOCT. 25, 1996
Nearly a century and a half after Darwin's "Origin of Species," Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.
With a formal statement sent to the Pontifical Academy of Sciences on Wednesday, the Pope said, "Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis."
http://www.nytimes.com/1996/10/25/world/pope-bolsters-church-s-support-for-scientific-view-of-evolution.html .
HIGHLIGHTS OF DAWN
April 1997
PART 1 OF A 2-PART SERIES
Creation or Evolution?
ON OCTOBER 24, 1996, Pope John Paul II issued a written statement to the Pontifical Academy of Sciences concerning the theory of evolution. He said, “Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis.” The New York Times, in reporting on this statement, said, “Nearly a century and a half after Darwin’s "Origin of Species", Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.
http://www.dawnbible.com/1997/9704-hl.htm

2. Heaven, Hell and Purgatory
Thiên Đàng, Hỏa Ngục và Lò Luyện Tội

Thực ra John Paul II và Vatican đã cho “Thượng Đế” về vườn vào ngày 21 tháng 7 năm 1999. Chúa “Dưới Trần” Đức Thánh Cha John Paul II và Vatican chính thức khai tử Catô Rô-Ma giáo Và cho “CHÚA TRÊN TRỜI” về nhà đuổi gà cho 32 cô vợ nhí, và JESUS MẤT CÁI JOB “CỨU RỖI” khi cho “Thiên Đàng Mù” và “Hỏa Ngục Dổm” vào thùng rác mà Jesus và sau đó là Vatican mang ra lừa dối, dụ dỗ và hù dọa con “Chiên” hay người nhẹ dạ, yếu bóng vía khi tuyên bố “Thiên Đàng và Địa Ngục” không phải là nơi chốn vật lý mà chỉ là tưởng tượng (1). Thượng Đế là “Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Ma” thành kẻ bơ vơ, nay đây mai đó, thất tha thất thểu, không nhà , nay Bến Hải mai Cà Mâu.
Không có thiên đường thì không có “Thượng Đế”, không có “Thượng Đế” thì không có Adam & Eva. không có Adam & Eva thì không có tội “tổ tông”.
Không có tội “tổ tông” thì cần quái gì Jesus “CứuChuộc”.

Ri Nguyễn

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2018

Cảnh giác với Hội thánh “Đức Chúa trời mẹ”


Hội thánh “Đức Chúa trời mẹ” được thành lập bởi Ahn Sahng Hong (1918 – 1985) vào năm 1964 tại Hàn Quốc và hoạt động dưới danh xưng “World Mission Society Church of God” (“Hiệp hội truyền giáo Tin Lành thế giới”). Tuy nhiên, một hội đồng với đại diện các Hội Thánh tại Hàn Quốc đã tuyên bố “World Mission Society Church of God” là một “tà giáo” và nhắc nhở các tín hữu cẩn thận với hoạt động của “tà giáo” này.
Tại Việt Nam, Hội thánh “Đức Chúa trời mẹ” xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 21. Việc lan truyền “tà giáo” này đã và đang để lại nhiều vấn đề không tốt cho bản thân và gia đình những người tham gia, đồng thời kéo theo những hệ lụy xấu cho xã hội. Bởi thứ tôn giáo này rao giảng những điều không phù hợp với thuần phong mỹ tục và văn hóa truyền thống của Việt Nam.
Với luận điệu ngắn gọn “Đức Chúa trời là đấng tối cao quyền năng, tạo ra các vì sao, các hành tinh và trái đất, tạo ra loài người để cai quản nó. Nay sắp đến ngày tận thế, đức Chúa trời thương xót cho loài người nên mới đi tìm con cái để cứu rỗi. Ai may mắn lắm mới được đức chúa trời cứu, ai không nghe theo sẽ bị hủy diệt. Ai muốn được cứu thì đến để làm lễ vượt qua”. Những ai đã tin vào luận điệu đó thì đến Sion(nơi tụ tập mọi người để sinh hoạt) để làm lễ gồm: lễ chuộc tội là 3 lần/ ngày dâng tiền để đức Chúa trời tha tội và ban phước lành, ai dâng nhiều tiền thì được đức Chúa trời tha nhiều tội và ban nhiều phước lành. Lễ cảm tạ dâng tiền 3 lần/ngày, lễ phụng sự dâng tiền 3 lần/ ngày nhằm phụng sự đức Chúa Jesus đã hy sinh thân mình, đóng đinh treo trên cây thánh giá.
Các đối tượng còn rêu rao rằng:
Đức Chúa trời muốn ta cất của cải ở nước thiên đàng, đó là tấm lòng ta để ở đó.
Đức Chúa trời không cần của cải của chúng ta, vì thế chúng ta phải dâng 1/10 tổng thu nhập hàng tháng để Đức Chúa trời mẹ giữ hộ. Cứ có tiền vào tay phải trích ngay 1/10 để riêng một chỗ để đến ngày thứ 7 đem đến dâng lên “Đức Chúa trời mẹ”(?).
Nghe qua đã thấy những luận điệu đó thật phi lý. Bởi số tiền này dùng để chi vào việc gì thì không ai được biết. Số tiền đưa cho “Đức Chúa trời mẹ” giữ hộ thì ai sẽ quản lý và sử dụng ?. Trong khi những đối tượng mà chúng nhắm đến là những người có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như người nghỉ hưu, sinh viên được bố mẹ gửi tiền ăn học hàng tháng, những người kinh doanh buôn bán…
Những người tham gia vào tổ chức này, sau khi trở thành con chiên với niềm tin rằng “Khi chết đi đức Chúa trời sẽ biến hóa cho các con chiên thăng thiên lên trời, ở nước thiên đàng, sống như tiên, suốt ngày vui chơi, múa hát, không ăn uống, không dùng đến tiền”. Vậy đóng 1/10 thu nhập để “Đức Chúa trời mẹ” giữ hộ để làm gì trong khi không dùng đến tiền ?
Nhiều người đã nhận thấy dấu hiệu bất minh trong việc thu chi tiền bạc, sự hoang đường, mù quáng không có thật nên đã từ bỏ, không tham gia và đã viết đơn tố giác đến cơ quan chức năng. Từ đó có thể thấy giáo lý hoạt động của “Hội Thánh đức Chúa trời mẹ” mang tính chất tà đạo, có biểu hiện mê tín dị đoan, lợi dụng giáo lý để trục lợi cá nhân.

“Hội Thánh đức Chúa trời mẹ” là tổ chức chưa được các cơ quan chức năng Việt Nam công nhận là tổ chức tôn giáo. Chính vì thế, việc tham gia hoạt động của tổ chức này là hành vi vi phạm pháp luật. Những người đứng ra tổ chức sinh hoạt, lôi kéo, dụ dỗ người khác tham gia chắc chắn sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Do đó, khi phát hiện các hoạt động của “Hội Thánh đức Chúa trời mẹ” tại địa bàn, người dân cần kịp thời báo cáo cho cơ quan chức năng, tích cực đấu tranh, vạch trần ý đồ gian dối với những đối tượng tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục mọi người tham gia vào tổ chức, tránh bị “tiền mất, tật mang”.

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

TỘI ÁC CỦA ĐẠO KI TÔ

Để trả lời cho câu hỏi "Nếu đạo Chúa xấu ác như mấy người kể, tại sao đạo của họ phát triển khắp thế giới, và tồn tại cả hơn hai ngàn năm?" của một số người không muốn nghe sự thật. (SH)
[...Hãy nhìn vào các nước ở Trung Nam Mỹ. Ngày nay hầu hết họ theo đạo Ca Tô. Tổ tiên của họ đã bị binh sĩ là tín đồ hoặc giáo sĩ Ca Tô giết hại rất nhiều không đếm được, và theo đó, văn hóa truyền thống của họ cũng đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Những người còn sống sót là những người phải chấp nhận cải đạo thành tín đồ Ca Tô do bị cưỡng bách. Kết quả là người dân các nước Nam Mỹ ngày nay hết lòng tín ngưỡng đạo Ca Tô, tôn giáo đã tàn sát dã man tổ tiên và hủy diệt văn hóa của dân tộc họ...]
Toshiaki Suzuki
Toshiaki Suzuki (ảnh: endangi.com)
Lời người lược dịch: Cho đến nay đã có nhiều sách báo, tài liệu viết về “tội ác của đạo Ki Tô”. Bài dưới đây của tác giả T. Suzuki cũng viết về đề tài này, nên không có nhiều điều mới. Tuy nhiên, với nhận thức về sự cần thiết nhắc đi nhắc lại những giai đoạn lịch sử đen tối để chúng ta không quên, hầu làm bài học chiêm nghiệm cho hiện tại và tương lai. Đừng để lịch sử đen tối ấy, dù dưới hình thức khác, trở lại với nhân loại nói chung, với đất nước Việt Nam nói riêng.
***
Khác với Nhật Bản theo tôn giáo đa thần (nd: hai tín ngưỡng chính tại Nhật Bản là Phật Giáo Bắc Tông gồm nhiều Pháp môn và Thần Đạo. Thần đạo, ngoài việc thờ phụng tôn vinh những vị anh hùng quá khứ người Nhật, họ còn thờ thần sông, thần núi, thần ruộng…với quan niệm rằng con người, thần và thiên nhiên là nhất thể, nên còn được gọi là tôn giáo dân tộc, là tín ngưỡng thiên nhiên với 8 triệu vị thần) thì Âu Mỹ là những nước theo đạo Ki Tô độc thần (Ca Tô Và Tin Lành) với lịch sử gây ra nhiều tội ác không thể che dấu được. Trong đó, phải kể đến những tòa án tôn giáo vô cùng tàn nhẫn. Giáo hội Ca Tô cho rằng họ là tổ chức có uy quyền tuyệt đối đối với thế gian nên những tội ác của họ cũng được họ biện hộ cho là hành vi chính đáng.
Với nhận thức của người bình thường ngày nay thì giáo hội Ki Tô đã phạm tội lỗi nghiêm trọng với những hành vi tàn nhẫn cùng cực. Trong lịch sử Nhật Bản không hề có một tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo nào làm những điều ác đức như giáo hội Ki Tô. Trong một chuỗi những tội ác họ đã gây ra, phải kể đến hai tòa án tôn giáo là “tòa án tra khảo người dị giáo” và “tòa án tra khảo ma nữ (mụ phù thủy)”.
Về tòa án dị giáo, khi bị cáo bị tòa án dị giáo phán quyết là kẻ “không phải là tín đồ chính thống của Ki Tô” thì kẻ ấy phải chịu hình phạt tử hình mà phương thức thông thường là thiêu sống trên giàn hỏa.
Vào thời trung cổ, vị Giáo Hoàng nổi tiếng là Innocent III (1198-1216) tuyên bố rằng:
“Hãy dùng hình phạt thiêu đốt đối với những kẻ giải thích sai lệch về Thiên Chúa hoặc những kẻ mang tư tưởng mâu thuẫn với lời dạy trong Kinh Thánh”.
Để tận diệt những kẻ “dị giáo”, giáo hội Ca Tô cũng không từ bỏ việc lợi dụng Thập tự quân - là đội quân được thành lập với mục đích chính là truy đuổi tín đồ đạo Hồi ra khỏi thánh địa Jerusalem- tàn sát đẫm máu những tín đồ Hồi giáo tại nhiều nơi.
Giáo hoàng Innocent IIIGiáo hoàng Gregory IX
Giáo hoàng Innocent III (ảnh: Thinklink.com) và Giáo hoàng Gregory IX (ảnh: Wikipedia)
Năm 1231, GH Gregory IX đã ban hành thành lập một cơ quan độc lập “tòa án tra khảo người dị giáo”. Trong ban tra khảo này có sự tham gia của quan tra khảo đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GH. Chế độ có những qui định như: tòa án xử kín không công khai, khích lệ mật báo, có quyền được tra tấn tàn nhẫn để lấy lời khai. Tòa án dị giáo đã sử dụng những dụng cụ và phương pháp tra tấn đẫm máu tàn nhẫn để lấy được lời khai.
Một vài thí dụ về phương pháp tra tấn của tòa án dị giáo như sau: Quan tra khảo mặc một chiếc áo choàng có phủ đầu màu đen bao trùm toàn thân như một tử thần. Để lấy lời khai của bị cáo, họ đã sángchế ra nhiều dụng cụ tra tấn làm cho kẻ bị tra tấn đau đớn đến mức độ không thể chịu đựng được, như từ từ cắt cưa chân, tay hoặc bẻ gãy hoặc kéo rút những khớp xương của những bộ phận trong cơ thể, v.v...
Những dụng cụ tra khảo này thường được khắc ghi hàng chữ như “Vinh Quang chỉ dành cho ThiênChúa”. Những dụng cụ được sử dụng thông thường là:
-Bàn tra tấn: bị cáo bị trói đặt nằm lên bàn, sau đó tay chân bị kéo dài ra cho đến khi các khớp xương bị rớt ra.
-Dụng cụ treo bị cáo lên không: sau khi trói hai tay bị cáo ra phía sau, buộc hai cánh tay bằng sợi dây và kéo lên cao cho đến khi cánh tay bị trật rớt ra.
-Tra tấn bằng cách chế nước: một cái phểu được cắm vào cổ của bị cáo, sau đó đổ nước vào bụng cho đến khi bụng phình chướng to lên.
-Dùng mỡ lợn hoặc dầu bôi lên thân thể bị cáo, sau đó châm lửa thiêu đốt từ từ.
-Trong thời kỳ Đức quốc xã ở thế kỷ 20 đã dùng lò thiêu sống tù nhân một cách tàn nhẫn mà đã bị cả thế giới nguyền rủa. Nhưng thật ra cách thiêu đốt này đã được sử dụng đầu tiên vào thế kỷ 12 của “tòa án tôn giáo” tại Đông Âu.
- Đẩy bị cáo xuống lỗ có rắn và chôn sống nếu không chịu khai báo.
-Một phương pháp tra khảo tàn nhẫn khác là cho bị cáo nằm ngửa giơ bụng ra. Úp trên bụng một cái tô chụp ngược, trong tô có nhiều chuột. Sau đó đốt lửa trên đáy tô để ngược làm tô nóng lên từ từ. Chuột trong tô hỗn loạn cố gắng cắn bụng bị cáo để tìm cách thoát thân. Nếu bị cáo vẫn không chịu thú tội thì cũng bị thiêu đốt sống.
- Lại có trường hợp thiêu sống tập thể (được gọi là auto-da-fe).
Hình vẽ một phòng tra khảo người dị giáo (ảnh: SPIEGEL Online)
Trên đây là một vài thí dụ về hình phạt dị giáo của đạo Ki Tô, diễn tả sự tàn nhẫn khủng khiếp khiến mọi người đều kinh hãi. Một khi bị nghi là kẻ dị giáo, thì người đó khó trốn thoát được. Nhiều nhân viên trong ban tra khảo của tòa án dị giáo cải trang làm người thường dân để bí mật theo dõi những kẻ bị tình nghi.
Những hình phạt tra khảo không chỉ áp dụng cho những kẻ bị cho là không theo hoặc phản đối Thiên Chúa, mà còn được áp dụng cho những tín đồ theo tôn giáo khác hoặc dân tộc khác. Tòa án tôn giáo của Tây Ban Nha vào thế kỷ 15 được nổi danh với sự tàn nhẫn đối với người Do Thái. Quốc vương Tây Ban Nha cho rằng người Do Thái là phần tử làm ô nhiễm xã hội của đạo Ki Tô. Vì vậy, tòa án tôn giáo đã viện mọi lý do như chính trị hoặc tội phạm cá nhân, để bắt xử nhiều người Do Thái sinh sống tại Tây Ban Nha thời bấy giờ, mặc dù phần đông họ là những người Do Thái đã cải qua đạo Ki Tô. Ước tình có khoảng 340 ngàn người là nạn nhân của tòa án dị giáo, trong đó có khoảng 32 ngàn người bị thiêu sống.
Đối với người Ca Tô, thì đạo Tin Lành là thế lực phát sinh từ vận động cải cách và không tuân phục Ca Tô Vatican, khởi đầu từ khoảng đầu thế kỷ 16, cũng bị cho là dị giáo. Tuy nhiên, vì số tín đồ theo Tin Lành gia tăng nhanh chóng nên tòa án dị giáo của Ca Tô không còn đủ khả năng để khống chế. Đối lại, Tin Lành cũng cho rằng chính tín đồ Ca Tô mới là kẻ dị giáo không thể dung nhận. Tuy cùng là dân tộc da trắng, cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng chỉ vì khác tôn phái nên trở nên thù địch không khoan nhượng lẫn nhau, dẫn đến cuộc chinh chiến sống còn đẫm máu. Cuộc chiến giữa đạo Ca Tô và Tin Lành cho chúng ta liên tưởng đến cuộc chiến tương tàn chưa thấy hồi kết giữa 2 giáo phái Shia và Sunni tại Irak và trung Đông, tuy cùng chủng tộc, cùng tôn giáo đạo Hồi ngày nay.
Người Nhật Bản khó có thể lý giải được cấu tạo của tinh thần quá khốc liệt về niềm tin của những người theo tôn giáo độc thần. Tại Nhật Bản, có nhiều tôn phái trong Phật giáo. Nhưng không tín đồ của tôn phái nào tự cho mình là chính thống, còn những tôn phái khác là tà phái. Họ tôn trọng, không coi thường hoặc tàn ác đối với những tôn phái khác. Trong lịch sử, chưa hề có sự kiện tranh chấp, hoặc những tố tụng lẫn nhau giữa các giáo phái Phật giáo. Chính Francisco Xavier, nhà truyền đạo Ki Tô phương Tây đầu tiên đến Nhật cũng tỏ ngạc nhiên về sự hòa hiệp, tương ái giữa những giáo phái của đạo Phật.
Tiếp theo là câu chuyện về “săn lùng ma nữ (mụ phù thủy)”. Đạo Ki Tô tin rằng có sự tồn tại của ma nữ giao tiếp với ác linh. Đối tượng bị cho là ma nữ phần nhiều là những người đàn bà có tuổi với khuôn mặt nhăn nheo trông dễ sợ.
Theo suy đoán cá nhân (tác giả Suzuki) thì có lẽ phụ nữ Tây Âu có mắt to và mũi cao, nên khi về già thì da nhăn với khuôn mặt co cóp dễ nhìn thấy sợ. Trong các tác phẩm vẽ về phù thủy của Nhật, thường biểu hiện khuôn mặt của người phụ nữ Âu Mỹ da nhăn, má cóp với cặp mắt to và mũi cao. Hình ảnh phụ nữ già Nhật Bản với mũi tẹt, mắt hí ít khi xuất hiện trong truyện tranh diễn tả mụ phù thủy.
Ngoài những đàn bà lớn tuổi, thì những phụ nữ được nhiều người chú ý như phụ nữ đẹp lôi cuốn, hoặc ngược lại những phụ nữ có khuyết tật về thân thể hoặc tinh thần cũng dễ trở thành đối tượng bị nghi là “ma nữ”. (Một khi có phụ nữ nào được bà hoặc mẹ của mình chỉ cho loại thảo mộc có thể chữa bệnh thì phụ nữ đó cũng bị tình nghi là ma nữ vì nghe theo lời dạy của ma nữ. Vì vậy trong y học Tây Âu, kinh nghiệm sử dụng dược thảo hầu như bị loại trừ, không thể phát triển được cho đến ngày nay).
Như trên, đạo Ki Tô chủ trương là có sự tồn tại của ma nữ. Nếu tín đồ nào không tin vào điều này cũng bị cho là kẻ dị giáo.
Nguyên do của niềm tin về sự hiện hữu của ma nữ xuất phát từ thái độ khinh miệt phái nữ của tôn giáo này.
-Vào thế kỷ thứ 2, St. Clement thuộc Alexandria tuyên bố rằng “Tất cả phụ nữ phải biết hổ thẹn vì mình là người đàn bà”.
-Vào thế kỷ thứ 6, triết gia Ki Tô giáo Boethius cho rằng “Phụ nữ là nhà thờ được xây trên ống cống thoát nước bẩn”.
-Vào thế kỷ thứ 10, giáo sĩ Odo thuộc tu viện Cluny nói rằng “Ôm người phụ nữ không khác nào ôm túi phân bón”.
-Thế kỷ thứ 13, St. Thomas Aquinas tuyên bố “Phụ nữ là tác phẩm thất bại của Thiên Chúa. Trong quá trình sáng tạo vạn vật, không cần sáng tạo bất cứ sản phẩm khuyết tật nào. Vì vậy, phụ nữ cũng là sản phẩm khuyết tật đáng lẽ không nên sáng tạo”.
Tại Hoa Kỳ, vào năm 1692, tại thuộc địa Salem của Massachutsetts, tòa án tra khảo ma nữ đã được thực thi. Kết quả là có trên 150 phụ nữ bị giam tù, và 19 người bị treo cổ tử hình. Đây là sự kiện tòa án phán xử ma nữ lớn nhất tại Hoa Kỳ. Nhưng nếu so với châu Âu thì không đáng kể. Tại châu Âu, tòa án tra khảo ma nữ đã có từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, trải qua 300 năm. Trong đó thế kỷ 16 và 17 là thời kỳ thịnh hành nhất. Hầu hết những nạn nhân trong tòa án tra khảo ma nữ là phụ nữ, nhưng cũng có trường hợp là đàn ông, tuy rằng rất hiếm.
Treo cổ ma nữ trong vụ án săn lùng phù thủy tại Salem, bang Massachussett, Mỹ (Ảnh: Salem witch trial, pinterest.com)
Tuần tự việc lùng bắt và tra khảo ma nữ thông thường như sau: trước hết phụ nữ bị mật báo là ma nữ sẽ bị bắt bỏ vào ngục. Sau đó đưa ra tòa án tra khảo: bị cáo bị cởi áo quần và cạo sạch tất cả lông trên thân thể. Đạo Ki Tô tin rằng nếu là ma nữ thì sẽ có dấu hiệu khác thường nào đó tại vùng xung quanh cơ quan sinh dục của người phụ nữ. Ngoài ra họ còn tin rằng trong thân thể của ma nữ có bộ phận nào đó không cảm nhận sự đau đớn. Vì vậy họ dùng kim đâm chích khắp nơi trên cơ thể. Nếu có bộ phận nào không còn cảm giác đau đớn vì đã chịu nhiều lần đâm chích thì bị cho đây là chứng cớ của ma nữ. Những phụ nữ bị cho là ma nữ phải chịu nhiều hình phạt tàn nhẫn. Họ bị trói chặt vào chiếc bàn dài, bị tra khảo bằng những cách như kéo dài lưỡi ra, hoặc cột những cục nặng vào hai chân sau đó bắt nằm giữa trên chiếc ghế có 3 nhánh được gọi là “chiếc ghế của ma nữ” trong nhiều giờ. Tất cả những phương pháp tra khảo đều rất tàn nhẫn, đặc biệt đối với phụ nữ. Vì vậy sau khi không chịu nổi hình phạt họ đành phải thú tội mình là “ma nữ”. Kết quả cuối cùng là bị tử hình, mà hầu hết là hỏa thiêu.
MACABRE HISTORY: Salem Witch Trials 1692 Published on Jun 30, 2012
Ngoài ra, còn có những loại hình phạt khác như tách hai chân ra cho đến chết, hoặc bỏ vào bồn nước sôi, v.v…Trên đây là những phương thức tử hình tàn nhẫn mà ngày nay không thể nào hình dung ra được.
Một bác sĩ làm việc trong trại ngục nhốt “ma nữ” đương thời đã để lại thổ lộ: Những phụ nữ bị tình nghi là ma nữ bị nhốt vào phòng tối dơ bẩn và thường xuyên bị lôi ra tra khảo...Với những hình thức tra tấn vô cùng tàn nhẫn, nhiều phụ nữ tuyệt vọng muốn chạy trốn bằng cái chết, hoặc nếu không thì phảichấp nhận khai nhận mình là ma nữ, điều mà quan tra khảo mong muốn, mặc dù nó không là sự thật.Trong cuốn sách có tựa đề “Nghiên Cứu về Ma Nữ (Demonology)” mà tác giả là quốc vương Anh quốc James I có viết: Nếu không có những hình phạt tra khảo tàn ác thì họ (bị cáo) không khi nào chịu thú tội (vì nó không thật).
Trong thời gian tra khảo, nếu quan tra khảo muốn thỏa mãn thú tính sinh lý, hắn có thể sờ mó hoặc làm đau đớn bằng cách dùng kìm, kim hoặc thanh sắt nóng, hoặc bất cứ dụng cụ nào kẹp, kéo, đâm vào nhũ hoa, vào vùng kín của phụ nữ. Hành vi tàn nhẫn đối với việc săn lùng ma nữ không ngừng ở đó. Đối với con cái của nghi phạm “ma nữ” cũng bị giáo hội đối xử tàn nhẫn. Con gái trên 9 tuổi rưỡi và con trai trên 10 tuổi rưỡi phải chịu hình phạt tra khảo để lấy lời khai tố cáo mẹ mình. Ngay cả lời khai của trẻ em 2 tuổi cũng được cho là chứng cứ nếu có lời khai có lợi cho họ.
Vì hầu hết những tài liệu về số “ma nữ” bị hành hình đã bị thất lạc (hoặc tiêu hủy) nên không có con số chính xác về người bị hành hình. Tuy nhiên, theo ước tính của những nhà nghiên cứu ngày nay thì ít nhất có khoảng 9 triệu phụ nữ đã bị tử hình với tội danh là “ma nữ” trong 2 thế kỷ 16 và 17.
Dưới đây là một vài thông tin được tìm thấy.
-Tại địa phương Würzburg Đức, số phụ nữ bị thiêu sống là khoảng 300 người trong vòng 1 năm kể từ năm 1616 đến 1617.
-Tại Mainz Đức, từ 1611 đến 1629, có trên 1000 phụ nữ bị tử hình.
-Tại Strasbourg, từ 1615 đến1635, có khoảng 5000 “ma nữ” bị giết.
-Tại Scotland thuộc Anh, từ 1590 đến1680 có trên 50 ngàn người bị hành hình.
-Ngay tại thành phố xinh đẹp Como của Ý cũng đã thiêu sống khoảng 1000 người chỉ trong một năm 1523.
Cả đạo hai đạo Ki Tô (Ca Tô và Tin Lành) đều có chế độ tòa án tra khảo người di giáo và tòa án truy lùng ma nữ. Vì vậy, cả hai tôn giáo Ca Tô và Tin Lành đều đã nhúng vào tội ác ghê gớm.
Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ Thomas Jefferson, cũng là vị Tổng Thống biên soạn Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ, đã viết về đạo Ki Tô vào năm 1785 như sau:
“Để giáo lý của đạo Ki Tô được lan rộng, biết bao nhiêu triệu nam nữ và trẻ em vô tội đã phải hy sinh như bị thiêu đốt, tra khảo tàn nhẫn, hoặc bị tịch thu tài sản hoặc bị nhốt vào tù ngục. Tuy vậy chúng ta đã không tiến được dù một inch nào trong cố gắng thống nhất ý chí giữa chúng ta. Vậy thì chế độ đàn áp của tôn giáo đã mang lại cho xã hội điều gì?. Kết quả là để lại một thế giới mà một nửa là những kẻ ngu dốt và một nửa còn lại là những kẻ đạo đức giả. Thế rồi nhiều người trong thế giới này lại bày tỏ sự ủng hộ hành vi tàn ác sai lầm và phản đạo đức này”.
Nhiều nước Châu Âu đã dùng vũ lực tiến vào các nước Á Châu, Phi Châu và Trung Nam Mỹ. Trong quá trình áp đặt chế độ thực dân đô hộ tại các nước này, luôn luôn có giáo hội Ca Tô ẩn nấp phía sau để hỗ trợ chính sách thực dân hóa, và song hành với sách lược Ca Tô hóa các nước này.
Hành vi ác đức của giáo hội Ca Tô vẫn tiếp tục cho đến gần đây.
Trong đệ nhị thế chiến, thay vì phản đối kế hoạch tàn sát người Do Thái của Đức Quốc Xã, họ lại bày tỏ sự ủng hộ. Giáo Hoàng đương thời là Pius XII đã ký một hiệp ước với Hitler, theo đó Vatican không phản đối hành vi tàn sát người Do Thái của Đức Quốc Xã, thay vào đó, chính quyền Hitler cũng không được truy hại giáo hội Ca Tô. Thật ra thì giáo hội Ca Tô chấp nhận hành vi truy hại người Do Thái của Đức Quốc Xã, cũng vì giáo hội Ca Tô đã từng có chủ trương đánh phá đạo Do Thái kể từ thế kỷ thứ 4.
Để làm dịu phần nào sự phẫn nộ và bất tín của thế giới đối với lịch sử tàn ác của giáo hội Ca Tô, năm 2000 GH John Paul II lẩn đầu tiên nhân danh giáo hội Ca Tô chính thức nhận và xin “Thiên Chúa” tha lỗi về những lầm lỗi mà giáo hội đã làm trong quá khứ. Những lầm lỗi mà GH công khai nhận, thứ nhất là giáo hội đã nhiều lần gởi những đội quân thập tự đến những vùng Hồi giáo dùng vũ lực bắt họ cải qua đạo Ca Tô, nếu không sẽ bị giết không thương tiếc. Hành vi này được lập đi lập lại trong suốt thế kỷ 11 và 12. Tiếp theo là tòa án tôn giáo tại Âu Châu, tra khảo và tử hình vô số những người bị cho là “kẻ dị giáo” và “ma nữ” được lập đi lập lại qua nhiều thế kỷ. Tội ác thứ ba là hành vi bách hại người Do Thái.
Theo nhận xét của tôi (tác giả Suzuki) thì không ít người Nhật “ngây thơ, ngu ngơ và dễ tin người” tỏ sự đồng tình hoặc chí ít là tin vào sự hối cải của giáo hội Ca Tô khi Gíao Hoàng nhận lỗi lầm trong quá khứ. Nhưng với tôi thì đây là hành vi ngoại giao vi thiện-đạo đức giả. GH chỉ xin “Chúa” tha thứ cho hành vi lầm lỗi của giáo hội trong quá khứ chứ không hề xin lỗi ai hết. Đây là thái độ không thành thật mà giáo hội Ca Tô đã có tính toán chu đáo. Vì nếu họ xin lỗi nêu đích danh người Do Thái hoặc tín đồ Hồi giáo thì có thể sẽ bị những tổ chức liên hệ tố tụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Ngày nay, Hoa kỳ là nước duy nhất được cho là siêu cường. Chưa có nước nào có đủ sức đối kháng với Mỹ cả về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng để trở thành siêu cường, biết bao nhiều người (trên thế giới) đã phải hy sinh cho quốc gia này. Không ai có thế đếm biết được. (nd: chủ nghĩa đế quốc)
Cũng như vậy, để trở thành một tổ chức mang tên “giáo hội Ca Tô” có qui mô toàn thế giới như ngày nay, thì không biết bao nhiêu người đã bị tàn sát bởi tôn giáo này. (nd: chủ nghĩa bành trướng độc tôn)
 
Quyển “Dark Side of Christian History” và tác giả Helen Ellerbe. Ảnh metroactive.com
Khi viết bài này, tôi đã tham khảo quyển sách “Dark Side of Christian History” của tác giả Helen Ellerbe. Tôi rất cảm phục sự dũng cảm của tác giả khi cho phát hành quyển sách này tại Âu Châu, nơi mà đạo Ki Tô còn rất mạnh. Không khó tưởng tượng ra rằng nếu không bị giết (ám sát) chăng nữa thì bà cũng phải chịu rất nhiều áp lực, hăm dọa từ nhiều phía.
Tương tự, khoảng 10 năm trước, nhà văn người Anh gốc Ấn Độ Salman Rushdie đã viết quyển tiểu thyết có nội dung trêu chọc và phê phán đạo Hồi. Liền sau đó giáo hội Hồi giáo đã công khai kêu gọi người Hồi giáo tìm cách ám sát ông ta. Để tránh nguy hiểm, Salman Rushdie đã phải ẩn trốn trong một thời gian dài. Sự kiên này cho ta thấy rằng dù là người không phải là tín đồ đạo Hồi, dù chỉ phê bình tôn giáo họ trong tiểu thuyết của mình thì cũng bị tuyên cáo hình phạt tử hình.
Tôi cũng đồng ý với chủ trương của Bà Helen Ellerbe cho rằng nhân tố chính dẫn đến sự phá hoại môi trường hiện nay là do quá trình phá hoại của các tôn giáo độc thần.
Sau cùng, tôi xin trích một đoạn trong phần cuối quyển sách của tác giả Helen Ellerbe:
“Rõ ràng rằng đạo Ki Tô đã có một lịch sử đen tối. Nhưng không vì vậy mà phủ nhận toàn bộ Ki Tô giáo. Từ xa xưa cho mãi đến ngày nay, vẫn luôn có những tín đồ cam đảm chống đối thái độ độc tài và tội ác của giáo hội Ki Tô chính thống. Họ đã lấy lòng từ và bác ái làm nền tảng để vượt qua sợ hãi và sự trừng phạt. Thay vì chỉ biết vâng phục với niềm tin mù quáng (cuồng tín), họ đã đề cao quyền lợi cá nhân và sự hài hòa”. Số tín đồ này không phải ít”.
Ở đây tôi cũng xin thêm đôi chút như sau: “Nếu đạo Ki Tô chỉ làm những điều ác như kể ở trên thì có lẽ đã không trở thành tôn giáo lớn như hôm nay. Nhưng nhìn mặt ngược lại thì nếu họ không làm cho loài người phải khủng hoảng, khiếp sợ thì đạo Ki Tô chắc chắn không phát triển như ngày nay”.
Hãy nhìn vào các nước ở Trung Nam Mỹ. Ngày nay hầu hết họ theo đạo Ca Tô. Tổ tiên của họ đã bị binh sĩ là tín đồ hoặc giáo sĩ Ca Tô giết hại rất nhiều không đếm được, và theo đó, văn hóa truyền thống của họ cũng đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Những người còn sống sót là những người phải chấp nhận cải đạo thành tín đồ Ca Tô do bị cưỡng bách. Kết quả là người dân các nước Nam Mỹ ngày nay hết lòng tín ngưỡng đạo Ca Tô, tôn giáo đã tàn sát dã man tổ tiên và hủy diệt văn hóa của dân tộc họ.
Nói tóm lại, trong thế giới ngày nay, nếu các tôn giáo độc thần (Ca Tô, Tin Lành và Hồi) còn lộng hành thì tuyệt đối nhân loại không thể có hòa bình thật sự. Dù nếu các tôn giáo độc thần trên thế giới chịu ngồi lại để bàn thảo về hòa bình chăng nữa thì cũng không thể mang lại hòa bình. Chỉ khi nào những tôn giáo đa thần như Nhật Bản (nd: bất cứ tôn giáo nào hoặc không tôn giáo mà không cuồng tín, không giáo điều, không độc thiện, không phản quốc, đối đãi bình đẳng, bằng tình thương và sự hiểu biết) được phát triển sâu rộng trên thế giới thì mới mong hòa bình đến với trái đất này.
Nguồn: Endanji Blog: http://www.endanji.com/?p=177