NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TRIỀU ĐÌNH HUẾ
BAN HÀNH LỆNH CẤM ĐẠO
Nguyễn Mạnh Quang
bản in 24 tháng 12, 2010
Bài viết này nguyên là Chương 5 có tựa đề là “Kế Sách Quậy Cho Nước Đục
Để Thả Câu” trong tập sách “Cung Cách Hành Xử Của Giới Con Chiên Người
Việt” mà người viết vừa mới biên soan xong. Hy vọng sẽ có cơ hội đăng
tải.
Mục đích của chương sách này là để nói lên sự thật vì sao mà triều đình
Nhà Nguyễn trong thời các vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị
(1840-1847), Tự Đức (1847-1883) phải ban hành các luật cấm đạo. Trước
khi trình bày những nguyên do thực sự, tưởng cũng nên biết qua những sự
vu khống và cách lý luận lươn lẹo hay ngược ngạo của các văn sĩ đạo Chúa
về chủ đề này. Xin được kể một vài trường hợp điển hình:
1.- Những lời viết của con chiên Chu Tất Tiến trong bài viết “Đòn Khiêu
khích tôn giáo của bọn tay sai Cộng sản” đầu tháng 12 năm nay 2010.
Nguyên văn như sau:
“Sau nữa là Phật Giáo Việt Nam được xem là hiền lương nhất, nhưng cũng
giết hơn 100,000 người cùng máu đỏ da vàng chỉ vì tội theo đạo Ca Tô!
Nào ngục tù, xiềng xích, treo cỗ, bắt trèo lên cây nứa đã đập nát, rồi
cho voi xé thân người ra làm 4 mảnh. (Trong số hơn 100,000 người Việt bị
giết vì đạo, đã có hơn 100 vị anh hùng tử đạ được phong Thánh).” [1]
2.- Có lẽ những lời của ông Chu Tất Tiến bắt nguồn từ những câu sau đây
trong "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng, một cuốn sách viết tạp
nham, không liệt kê sách tham khảo, và không có dẫn chứng thực tế nào
cả. Nguyên văn như sau:
“Một thảm kịch còn chia rẽ trầm trọng trong người Việt Nam với nhau là
việc cấm đạo. Con số nạn nhân thực sự là bao nhiêu không ai biết. Một số
nhà nghiên cứu đưa ra ước lượng trên một trăm ngàn. Họ đã bị giết
không phải vì đã phạm vào một tội ác nào mà chỉ vì đã theo một tín
ngưỡng không được triều đình chấp nhận, dù tín ngưỡng ấy không xúi giục
họ làm điều gì bạo ngược mà chỉ dạy họ công bình, bác ái. Có khi sự sống
và sư chết được quyết định một cách giản dị: ai chịu bước qua thánh giá
để chứng tỏ mình đã phủ nhận tín ngưỡng Công Giáo thì được sống, ai
không chịu thì bị dẫn thằng ra pháp trường. Và khoảng một trăm ngàn
người Công Giáo đã chịu chết để giữ tín ngưỡng của mình. Họ đã chết một
cách hiền lành không chống trả, chết trong lời cầu nguyện.
Việc bách hại người Công Giáo đã là một vết nhơ khó tẩy xóa trong lịch
sử Việt Nam. Đó là sự kiện nhà nước Việt Nam chứ không phải một đoàn
quân viễn chính xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn những người Việt Nam
hoàn toàn vô tội. Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đã biết họ vô
tội nhưng vẫn giết họ.
Điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt Nam
nào, nhân danh sự liên tục của quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi
những người Công Giáo về sự sai lầm khinh khủng đó.” [2]
Đọc đoạn văn trên đây cũng như toàn bộ cuốn Tổ Quốc Ăn Năn và nhiều bài
viết khác mà đáng kể nhất là bài viết “35 năm sau ngày 30/4/1975 Vài
khẳng định cần thiết” đăng trên tờ Thông Luận 247 ngày 09/06/2010, chúng
ta thấy ông Nguyễn Gia Kiểng không có căn bản nào (1) về lịch sử Việt
Nam, (2) lịch sử thế giới, (3) lịch sử Giáo Hội La Mã, và (4) kiến thức
tổng quát. Trình độ kiến thức tổng quát của ông Nguyễn Gia Kiểng, không
bằng trình độ hiểu biết của một học sinh mới học xong cấp II (lớp 8) ở
Hoa Kỳ. Điều tệ hại là ông ta không biết rằng ông ta dốt nát như vậy mà
lại còn hợm hĩnh huênh hoang, khoác lác, ra vẻ ta đây là người thông
kim bác cổ. Ông Kiểng lên mặt thày đời viết những diều ngông cuồng và
cực kỳ ngu dốt. Đây là tình trạng chung của các con chiên ngoan đạo
người Việt. Riêng về ông Nguyễn Gia Kiểng, chúng tôi đã đưa ra một số
nhận xét trong loạt bài có nhàn đề là “Lời Khẳng Đinh Của Một Con Cừu”
và đã được đăng online từ ngày 3/10/2010. Xin đọc
http://sachhiem.net/NMQ/NGGKG/NGK1.php,
http://sachhiem.net/NMQ/NGGKG/NGK2.php, và
http://www.sachhiem.net/NMQ/NGGKG/NGK3.php.
Ông Nguyễn Gia Kiểng được nhiều người cho là một trí thức Công giáo, tốt
nghiệp một đại học lớn ở Pháp với bằng kỹ sư (không biết ngành gì) và
là con chim đầu đàn của Nhóm Thông Luận. Thế nhưng ông viết lách vừa ẩu
tả vừa luơn lẹo, vừa hốn hào và ngược ngạo như thế. Tất nhiên là những
con chiên ngoan đạo khác, hẳn là phải tồi tệ gấp cả ngàn lần con cừu non
Nguyễn Gia Kiểng này.
Về con chiên Chu Tất Tiến, căn cứ vào những điều ông ta viết ra trong
các i-meo đã được phổ biến trên diễn đàn điện tử nhiều năm nay, (với các
hàng tựa như “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử” ngày
29/01/2010, bài viết “Đòn Khiêu khích tôn giáo của bọn tay sai Cộng sản”
ngày 3/12/2010, bài viết “Xin Đừng Mắc Mưu Khiêu Khích Tôn Giáo, một
sách lược của Việt Cộng” và nhiều bài viết khác), người viết nhận thấy
rằng trình độ hiểu biết về lịch sử và kiến thức tổng quát của con chiên
họ Chu này cũng thuộc loại của con cừu Nguyễn Gia Kiểng. Con chiên Chu
Tất Tiến cũng huênh hoang, khoác lác, ưa thích thổi phồng cái tôi lên để
hù thiên hạ, viết lách vô trách nhiệm, và thường có thói quen phun ra
những lời lẽ thiếu văn hóa. Thực ra, đây là đặc tính chung của nhiều văn
nô hiệu người Việt Ca-tô.
Vì những lời vu khống của con chiên Chu Tất Tiến như đã kể ở đoạn đầu,
nên chúng tôi muốn trình bày rõ những nguyên nhân trực tiếp khiến cho
triều đình nhà Nguyễn phải ban hành những lệnh cấm đạo.
*
* *
Việc Nguyễn Ánh nhận viện trợ quân sự của Giám Mục Bá Đa Lộc để giành
giật ngai vàng cho chính bản thân và dòng họ mà các sử gia và người đời
đã lên án Gia Long là hạng người "Cõng rắn về cắn gà nhà", giống như Lê
Chiêu Thống trước kia đã "Rước voi về giày mả tổ".
Có lẽ cũng vì ý thức được cái họa "đã đem đàn rắn hổ mang Vatican vào
trong nhà" và "đàn rắn này đã sinh sản ra hàng ngàn con rắn bản địa độc
hại hơn", cho nên ngay khi vừa mới thành công diệt được nhà Tây Sơn, vua
Gia Long liền tìm cách lảng xa các nhà truyền giáo và các ông cố vấn
người Âu Châu đã giúp ông trong lúc còn bôn-ba lận đận. Và cũng có lẽ đã
biết rằng các nhà truyền giáo sẽ không bỏ cuộc, cho nên trước khi nhắm
mắt lìa đời, vua Gia Long mới quyết định đưa Thái Tử Đảm lên ngôi và căn
dặn phải tìm cách loại bỏ hay diệt trừ cái họa của "đàn rắn độc Vatican
do chính nhà vua đã cõng về đang nằm trong căn nhà Việt Nam". Thái Tử
Đảm lên ngôi lấy vương hiệu là Minh Mạng. Vốn là người thâm Nho, thông
minh, sáng suốt, cương quyết và nặng tình dân tộc, cho nên ngay sau khi
vừa mới lên ngôi, Ngài đã quyết tâm thi hành đúng theo lời di chúc của
tiên vương là lánh xa các nhà truyền giáo bằng mọi giá.
Hết bị vua Gia Long quên ơn bội nghĩa, đẩy ra và tìm cách lánh xa, lại
đến bị vua Minh Mạng ruồng rẫy, các nhà truyền giáo thấy rằng không thể
tiến hành kế hoạch chinh phục Việt Nam bằng phương cách hòa bình, nghĩa
là không còn cách gì để biến nhà vua thành một Constantine của giáo hội
rồi dùng quyền chính để cưỡng bách nhân dân ta phải theo đạo. Tất nhiên
là việc này cũng được tường trình về La Mã để giáo triều Vatican vạch ra
kế hoạch mới cho thích hợp với tình thế mới. Qua các tài liệu lịch sử,
người ta nhìn thấy 4 điểm trong kế hoạch mới như sau:
- Cố gắng vận động đưa Hoàng Tôn Đán kế nghiệp Vua Gia Long
- Xúi giáo dân nổi loạn chống lại triều đình Huế
- Móc nối những thành phần bất mãn với triều đình để xúi giục họ nổi
loạn và tìm cách viện trợ hay giúp cho các nhóm nổi lọan này.
- Quyết tâm vận động Pháp cấu kết với Vatican và xuất quân chinh phục Việt Nam.
Nhận thấy điểm thứ ba và thứ tư trên đây hiện nay vẫn còn được áp dụng một cách tích cực.
Ngoài ra, yếu tố động chạm văn hóa, gây mâu thuẩn trong xã hội là điều
rất hiển nhiên. Do quan niệm lấy "Thiên Chúa" làm nguyên nhân, động lực
và mục đích của mọi sinh hoạt, chẳng những đạo Chúa khó được chấp nhận
trong xã hội truyền thống xa xưa, mà ngay cả thời nay, ở những cộng đồng
xem "phúc lợi con người" là cứu cánh của mọi sinh hoạt xã hội.
Xin được lần lượt trình bày như sau:
1.- CỐ GẮNG VẬN ĐỘNG ĐƯA HOÀNG TÔN ĐÁN
LÊN KẾ NGIHỊỆP VUA GIA LONG
Chủ trương cố hữu của Giáo Hội La Mã là bằng mọi cách và bằng mọi giá
để đưa một tín đồ Da-tô khả tín lên làm vua hay lãnh đạo chính quyền tại
các quốc gia bị chiếu cố, rồi dùng quyền chuyên chính của nhà nước ban
hành một sắc lệnh đưa đạo Da-tô lên hàng quốc giáo và cưỡng bách nhân
dân dưới quyền phải theo cái đạo mà văn hào Voltaire gọi là “cái tôn
giáo ác ôn”, giống như thời Đế Quốc La Ma trong thế kỷ 4. Kế sách để
thực hiện chủ trương này sẽ tùy theo hoàn cảnh chính trị và xã hội của
mỗi quốc gia bị chiếu cố.
Riêng tai Việt Nam, Giáo Hội đã lanh tay chụp lấy cơ hội hai vạn quân và
300 chiến thuyền của Xiêm La sang giúp Nguyễn Ánh bị ông Nguyễn Huệ
đánh bại vào tháng 2 năm 1784 "ở gần Rạch Gầm và Xòai Mút phía trên Mỹ
Tho" để nhảy vào làm thân với Nguyễn Ánh và thuyết phục ông ta trao đứa
con trai đầu lòng mới 5 tuổi là Hoàng Tử Cảnh (Nguyễn Phúc Cảnh) cho
Giám-mục Bá Đa Lộc dẫn đi Pháp thương thuyết với triều đình Vua Louis
XVI (1754-1793) vào năm 1784 để xin viện binh chống lại nhà Tây Sơn. Đây
là cơ hội bằng vàng để cho Giám-mục Bá Đa Lộc nuôi dưỡng và rèn luyện
chú bé Hoàng Tử Cảnh thành một tín đồ Da-tô và cũng là đứa con nuôi của
ông ta. Bá Đa Lộc đã thành công thuyết phục chính quyền Pháp ký Hiệp Ước
Versailles viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh. Thê nhưng, “người tính
không bằng trời định”. Ngay khi vừa ký hiệp ước này thì nước Pháp rơi
tình trạng khủng hoảng tài chánh rồi biến thành Cách Mạng 1789. Vì thế
mà hiệp uớc này bị bỏ xó, không được thi hành. Tuy nhiên, với thế lực
của Giáo Hội La Mã ở hậu trường, Bá Đa Lộc đã tìm được viện trợ quân sự
khác giúp Nguyễn Ánh. Nhờ vậy mà từ năm 1892, sau khi Vua Quang Trung
băng hà, thế lực của Nguyễn Ánh càng trở nên hùng mạnh và cuối cùng đã
đánh bại được nhà Tây Sơn. Vì thế mà Bá Đa Lộc rất được Nguyễn Ánh nể
trọng, có lẽ không có một người Việt Nam được Nguyễn Ánh nể trọng bằng
Đa Đa Lộc.
Không biết vì lòng nể trọng Giám-mục Bá Đa Lộc hay vì tuyền thống trọng
trưởng nam hay vì một thủ đọan chính trị, ngay từ tháng 3 năm 1793, lúc
đó Hòang Tử Cảnh mới có 14 tuổi, Nguyễn Ánh đã phong cho Hoàng Tử Cảnh
làm Đông Cung Thái Tử. Như vậy, kể từ ngày này, NẾU Nguyễn Ánh qua đời
bất kể là lý do gì, THÌ Hoàng Tử Cảnh sẽ chính thức lên nối ngôi và
người phụ chánh hay cố vấn tối cao của ấu quân Cảnh là Giám-mục Bá Đa
Lộc. NẾU sự việc xẩy ra như vậy, THÌ tình trạng triều đình ấu quân Cảnh y
hệt như tình trạng triều đình nước Pháp trong thời ấu quân Louis XIII
(1601-1643) mà chúng tôi đã trình bày đầy đủ Chương 6 trong Phần I, sách
Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã và Chương 16 trong sách Tâm
Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam. Cả hai chương sách này đều đã được đưa lên
sachhiem.net. Xin quý vi bấm hai cái links duới đây đọc để biết rõ hơn
về vấn đề này: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH06.php và
http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16.php
Thế nhưng "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Trong khi thế lực
Nguyễn Ánh đang trên đà đại thắng và đã chiếm được thành Quy Nhơn, thì
Bá Đa Lộc đột ngột qua đời vào lúc 10:30 ngày 9 tháng 10 năm 1799 dù
rằng khi đó ông giám mục này mới có 57 tuổi. Kể từ đó, không còn có một
giáo sĩ Da-tô nào được Nguyễn Ánh nể trọng như Bá Đa Lộc. Đây cũng là
một tin buồn cho Giáo Hội La Mã và tập đoàn giáo sĩ Da-tô đang họat động
tại Việt Nam. Thực ra, Giáo Hội La Mã và tập đòan giáo sĩ Da-tô đang
hoạt động tại Việt Nam buồn vì cái chết của ông Giám-mục Bá Đa Lộc thì
ít, mà buồn vì không còn hy vọng đưa Đông Cung Thái Tử Cảnh lên nối ngôi
Vua Gia- Long như đã dự trù thì nhiều hơn.
Người Việt Nam ta thường nói, "Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí." Vừa
mới được tin buồn về cái chết của Bá Đa Lộc thì chỉ khoảng hơn 4 tháng
sau đó, ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (1801), Hòang Tử Cảnh cũng qua đời
vì bị bịnh đậu mùa, lúc đó mới có 22 tuổi. Thế là mưu đồ của Giáo Hội La
Mã đưa Hoàng Tử Cảnh lên ngai vàng trong triều đình nhà Nguyễn rồi cho
một giáo sĩ ngồi ở hậu trường điều khiển thi hành kê hoạch Ki-tô hóa
nhân dân Việt Nam tử trên xuống như Hoàng Đế Constantine (280-337) đã
làm, thực sự tan ra thành mây khói.
Đứng trước tình trạng này, các tay tổ gián điệp Da-tô mang danh các nhà
truyền giáo được lệnh ngầm vận động các nhân vật thế lực trong chính
quyền triều đình Huế (trong đó có Lê Văn Duyệt) để đưa Hoàng Tôn Đán (đã
rửa tội theo đạo Da-tô) lên làm Đông Cung Thái Tử, nhưng thất bại.
Không biết vì Hoàng Tôn Đán quá nhỏ tuổi, hay vì Vua Gia Long đã nhìn
thấy rõ mối hiểm họa Da-tô ở đằng sau Hoàng Tôn Đán, cho nên năm 1816,
nhà vua mới chọn Hòang Tử Đảm, người con thứ tư, đưa lên làm Đông Cung
Thái Tử. (Khi chính thức lên ngôi, Thái Tử Đảm lấy đế hỉệu là Minh
Mạng). Việc này làm cho Giáo Hội La Mã và bọn truyền giáo Da-tô tại Việt
Nam chống lại triều đình Huế một cách điên cuồng, rồi có những hành
động liều lĩnh can thiệp trắng trợn vào việc chọn người đưa lên nối
nghiệp nhà Nguyễn.
http://en.wikipedia.org/wiki/Louis_XVIII_of_France
Vua Louis 18 và chiếc long bào - ảnh do Antoine Jean Gros vẽ
Thực ra, ngay khi thấy rằng Vua Gia Long không còn mặn mà với các nhà
truyền giáo thì họ cũng bắt đầu suy nghĩ và chuẩn bị hành động để gây
bất lợi cho triều đình Huế. Cũng nên biết, vào giữa thập niên 1810, tại
Âu Châu, Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Tòa Thánh Vatican vừa đánh
bại được Hoàng Đế Napoléon I, tái lập chế độ đạo phiệt Da-tô của dòng
họ Bourbon, đưa người em Vua Louis XVI lên cầm quyền, tức là Vua Louis
XVIII và phục hồi quyền lực cho Giáo Hội tại Pháp. Tại Việt Nam, năm
1816, nhân vụ vua Gia Long chọn Hoàng Tử Đảm làm Đông Cung Thái Tử để
sau này sẽ lên kế nghiệp, chứ không chọn Hoàng Tôn Đán, một người con
của Hoàng Tử Cảnh. Ỷ vào thế mạnh của Giáo Hội La Mã tại Pháp, nhân vụ
này, bọn truyền giáo Da-tô tại Việt Nam càng trở nên xấc xược và ngược
ngạo, gần như công khai chống lại quyết định trên đây của vua Gia Long,
lấy lý do là vua Gia Long đã bỏ dòng con trưởng để lập dòng con thứ, và
làm như vậy là phản lại truyền thống cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Sự
kiện được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực
Dân Tại Việt Nam ghi lại như sau:
"Cái cớ mà một số giám mục trong bọn họ đưa ra để cướp ngôi mà chính Gia
Long đã chỉ định người con thứ của mình (nhà vua) lên ngôi, thay vì
phải là người con cả. Các nhà truyền đạo Pháp ở Nam Kỳ chấp nhận ý kiến
này và liên kết với phe của người con cả vua Gia Long. Những người ở xứ
An Nam gần Huế (vùng giữa Bắc Kỳ và Nam Kỳ), thực sự lại đi xa hơn khi
phủ nhận tính chất hợp pháp của dòng họ đang tại vị. Họ cho chính Gia
Long là một kẻ cướp ngôi và tìm một người con cháu nhà Lê là một họ mà
các vua trở thành lười biếng và bị một vị thần trong triều sóan
ngôi."[3]
Sự kiện này cũng được sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945, Tập I viết:
Vua Minh Mạng
"Mối quan tâm hàng đầu của nhà vua không phải là vấn đề giáo lý Kitô, mà
chính là các giáo sĩ và cách tổ chức cộng đồng giáo dân. Minh Mạng lo
sợ rằng các nhà truyền giáo - Những người Tây Phương khó hỉểu và nham
hiểm, được điều động bởi một hệ thống bao trùm toàn cầu, và chắc chắn
khó thoát khỏi những liên hệ thường tình của con người về danh dự cùng
quyền lợi quốc gia hay dân tộc - sẽ trở thành gián điệp và phần tử xách
động nguy hiểm cho những mưu toan xâm lược Đại Nam. Ngoài ra, cũng có
một mối tư thù: Sau ngày được Gia Long phong chức Đông Cung Thái Tử vào
tháng 3/1816, Minh Mạng đã trở thành đối tượng đánh phá của các giáo sĩ;
vì Minh Mạng, theo họ, đã "soán ngôi" của con Hoàng Tử Cảnh là Hoàng
Tôn Đán. Việc Minh Mạng giết chết Đán (Mỹ Đường) và mẹ ruột Đán là Tống
Thị Quyên - vì tội thông dâm năm 1824 - càng khiến các giáo sĩ có thêm
bằng chứng đả kích nhà vua. Phần các giáo dân, dù chỉ chiếm thiểu số
trong xã hội, sau ba thế kỷ tồn tại và phát triển, đã tổ chức thành
những cộng đồng chặt chẽ. Dưới sự "chăn nuôi linh hồn" và tài trợ vật
chất của những nhà truyền giáo đầy nhiệt tình, ngạo mạn, cộng đồng Ki-tô
mang một sức mạnh chính trị đáng sợ nếu các giáo sĩ muốn chống lại
triều đình.
Trên cả hai bình diện giáo lý và thực hành, Kitô giáo đều trở thành kẻ
thù của một chế độ dựa trên chính trị/ đạo đức Nho giáo. Một mặt, giáo
lý Kitô - qua lời giảng dạy mọi người đều bình đẳng trước Chúa Bl'ời
[Trời] - thách thức trực diện chủ thuyết "thiên mệnh" và vai trò "nửa
người, nửa thánh" của bậc "thiên tử". Mặt khác, trong đời sống thường
nhật, các giáo sĩ và chức sắc đả phá nghi lễ thờ cúng tổ tiên và bài
bác, chống đối các tục lệ và pháp luật cổ truyền Đại Nam. Các giáo sĩ
còn rao giảng thuyết đối cực địa ngục - thiên đàng - một thuyết Minh
Mạng cực kỳ bài bác." [4]
2.- XÚI GIỤC GIÁO DÂN NỔI LỌAN
Rồi từ đó (khi vua Minh Mạng lên ngôi vào năm 1820), họ bịa đặt ra rất
nhiều điều xấu xa để bêu riếu và mô tả nhà vua như là một thứ bạo chúa
vô cùng tàn ngược, và dồn nỗ lực vào việc xúi giục những người bất mãn
với triều đình Huế nổi lọan rồi nhẩy vào làm cố vấn cho bọn đầu đảng và
kêu gọi giáo dân nhập cuộc. Sự kiện này sẽ được nói rõ trong tiểu mục 3
ở sau. Dưới đây là mấy đọan văn của Linh-mục Phan Phát Huồn viết trong
cuốn Việt Nam Giáo Sử - Quyển I cho chúng ta thấy các nhà truyền giáo
Da-tô bịa đặt đựng đứng nhiều những chuyện ghê tởm.
" Cuộc cách mạng do Lê Văn Khôi hướng dẫn có mục đích truất phế bạo chúa
Minh Mạng, và đặt lên ngôi người con của Hoàng Tử Cảnh tên là Đán, cháu
đích tôn của Gia Long....” “Vậy theo lời truyền khẩu Minh Mạng vì sợ
mất quyền, tìm kế làm tuyệt tộc nhánh Hoàng Tử Cảnh, Minh Mạng ăn ở với
chị dâu, thế rồi vợ Hoàng Tử Cảnh, góa chồng mà lại có thai. Minh Mạng
lên án cả mẹ lẫn con; nhưng vì là Hoàng tộc nên được ân huệ chọn cái
chết của mình, ân huệ ấy là tam ban triều điển, người bị xử được chọn 3
thước lụa hồng, hoặc một chén thuốc độc hay là một thanh gươm.”[5]
”Đang hăm hở bắt đạo tưởng rồi ra mau chóng diệt được ”Da Tô tả đạo” như
chương trình đã phác họa. Không ngờ qua năm 1841 nhà vua bị ngã ngựa
chết đem theo xuống mồ cái hận muôn đời không sao gột rửa được”. [6]
Những điều trên đây không thấy trong các sách sử của dân ta. Giống như
ngôn từ của Linh-mục Alexandre de Rhodes trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày,
mấy đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rõ miệng lưỡi của các ông giáo
sĩ và các nhà tu hành Da-tô quả thật là "có gai có ngạnh" đầy những
giọng điệu "hàm huyết phún nhân" (ngậm máu phun người), độc địa và láo
lếu đến nỗi các nhà viết sử đã cho rằng họ là những tên tổ sư nói láo.
Chính Linh mục Phan Phát Huồn còn than:
"Phần đông các sử gia cho rằng những chuyện của Giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường,..."[7]
Để biết những điều ông Linh-mục Phan Phát Huồn nói về Vua Minh Mạng
thực hư như thế nào, chúng ta hãy theo dõi bản văn sử dưới đây của
Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu nói về Vua Minh Mạng về vấn đề này như sau:
"Một lý do khác, không kém phần quan trọng, là sự nghi kị ngấm ngầm giữa
Minh Mạng với hậu Duệ Đông Cung Cảnh. Cảnh đã theo đạo Kitô, có lần từ
chối không chịu quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên, và nếu không chết sớm,
chưa hẳn đã lên ngôi. Nhưng theo đúng luân lý Khổng Giáo, vì thuộc dòng
truởng, con cháu Cảnh vẫn tự coi và đuợc coi như "phòng" chính thống.
Mặc dù Minh Mạng đã đặt ra một bài kệ đặt tên lót cho truyền nhân các
chi anh em mình, nhưng những cái họ Mỹ, Lệ, Tăng hay Lệnh, Nghi, Khôn
v.v... chẳng thay đổi được khả năng đối nghịch bất cứ lúc nào của hậu
duệ Hòang Tử Cảnh, nếu có sự tiếp tay của khối giáo dân Kitô. Bởi thế,
sau khi giết Tống thị (vợ Cảnh) và Hòang Tôn Đán, ngày 12/2/1825, vua
mật chỉ cho Tổng Đốc Quảng Nam:
Tà đạo của Âu Châu làm hư hỏng lòng người. Từ lâu, các thuyền Âu Châu
khi đến buôn bán đã để lại nhiều cố đạo trong nước. Những cố đạo này dụ
dỗ và làm hư hỏng nhân dân, đồng thời thay đổi và phá đổ các tập tục tốt
lành trong nước... [Khi có tầu Pháp đến thì phải chú tâm xem xét cẩn
thận.
Nói cách khác, cuộc xử án lăng trì Linh-mục Marchand (Mã Song hay Du)
cùng một số giáo dân năm 1835 không chỉ do một cơn nóng giận nhất thời -
hay thuần túy nhắm mục đích cảnh tỉnh dân chúng về huyền thọai thăng
thiên sau khi chết của các giáo sĩ, như Alexander B. Woodside giải
thích - mà còn mang sức nặng lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với giáo sĩ
cùng giáo dân về phản ứng của triều đình trong âm mưu "phiến gian thụ
đảng"..
Biện pháp trừng trị tín đồ Kitô của vua cũng không sắt máu như tài liệu
các nhà truyền giáo Pháp thêu dệt. Mục đích chính của vua là chỉ ngăn
chặn các nhà truyền giáo Tây Phương - những người ủng hộ nhiệt thành
Hòang Tử Cảnh và con cháu." [8]
Song song với việc chống đối vua Minh Mạng và triều đình Huế, Giáo Hội
ra lệnh cho bọn giáo sĩ dồn nỗ lực vào việc xúi giục giáo dân bất tuân
hành luật pháp của triều đình và của chính quyền địa phương. Sự kiện này
được nhà viết sử Nguyễn Xuân Thọ ghi lại trong cuốn "Bước Mở Đầu Sự
Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1997)" như sau:
"Hơn nữa, các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công Giáo Việt Nam đừng
thừa nhận quyền lực của nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các con
chiên rằng, "Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy
nhất của họ, họ chỉ phải tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican."
Vậy, đây không phải là vấn đề truyền giáo nữa, mà đơn giản là một mưu đồ
làm cho chính quyền của xứ sở này bị mất ổn định. Vì thế, hành động của
Nhà Vua, đối với trách nhiệm làm vua của ông, là hoàn toàn đứng đắn,
khi ông chống lại các hoạt động của một số giáo sĩ Kitô. Do đó, Minh
Mạng đã không ngần ngại công bố những chiếu chỉ cấm truyền đạo Kitô:
Những chiếu chỉ đầu tiên vào khoảng năm 1825, những chiếu chỉ quan trọng
nhất sau năm 1833."[9]
Đây là sách lược “quậy cho nước đục để thả câu”, một sách lược cố hữu
của Vatican. Do những lời xúi gịuc giáo dân nổi loạn rồi ngồi ở hậu
trường chỉ đạo, ho đã tạo nên những vụ nổi lọan Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ
trong những năm 1833-1835 như đã nói ở trên, lọan Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ
trong những năm 1858-1863), Loạn Cai Vàng (1862), v.v… Vấn đề này sẽ
được trình bày rõ ràng ở sau.
Những hành động xúi giục và trợ giúp các nhóm giáo dân nổi lọan này đã
gây ra hàng loạt hành động mà hành động sau là hậu quả trực tiếp của
hành động trước đó và trở thành nguyên nhân gần của hành đông kế tiếp,
móc nối với nhau như những chiếc vòng khoen trong một sợi giây chuyền.
A.- Về phía triều đình Huế: Với tình trạng loạn quân cướp phá giết hại
dân làng và chống phá nhà nước như trên, tất nhiên là triều đình phải
ra lệnh cho mở những cuộc hành quân dẹp lọan để ổn định tình hình.
B.- Về phía Giáo Hội La Mã và bọn truyền giáo-Da-tô: Như đã nói trên,
họ nắm thế thượng phong vì chính họ chủ động tạo nên tình hình như vậy
với ba mục đích:
1.- NẾU các cuộc nổi lọan do họ xúi giục (trường hợp các cuộc nổi loạn
của Lê Văn Khôi vào năm 1833 và của Tạ Văn Phụng trong những năm
1858-1863 thành công, THÌ chế độ đạo phiệt Da-tô sẽ được thiết lập ở
nước ta.
2.- KHI chính quyền đem quân dẹp các cuộc nổi loạn này, THÌ bọn truyền
giáo liền rêu rao rằng tín đồ Da-tô ở Việt Nam đang bị bách hại, rồi
dùng việc này làm “cái cớ” để họ đến kinh thành Paris thuyết phục chính
quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam.
3.- DÙ CHO các cuộc nổi lọan này không thành công, THÌ cũng có thể làm
cho tình hình Việt Nam vốn đã bất ổn vì nhân dân đói khổ do thiên tai
(bão, lụt, hạn hán và sâu rầy, châu chấu, v.v...) lại càng trở nên bất
ổn, rồi nhân đó nhẩy vào thi hành sách lược "thừa nước đục thả câu".
3.- MÓC NỐI VÀ XÚI GIỤC
NHỮNG THÀNH PHẦN BẤT MÃN NỔI LỌAN
Song song với những hành động xấc xược ngược ngạo trên đây, họ vừa ra
công tìm kiếm và móc nối với những thành phần bất mãn với triều đình,
vừa xúi giục các giáo dân "ngoan đạo" đứng lên phất cở nổi lọan chống
lại triều đình. Thành phần bất mãn với triều đình Huế đầu tiên được các
nhà truyền giáo móc nối kết thân rồi mớm cho ông này tư tưởng chống lại
triều định vua Minh Mạng, rồi tới Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn
Duyệt), vào năm 1833, tiếp theo là Tạ Văn Phụng và nhiều người khác. Sự
kiện này được Giáo sư Nguyễn Công Bình ghi nhận như sau:
"Một số giáo sĩ giúp Lê Văn Duyệt đối lập với Minh Mệnh. Theo thư của
Giám-mục Taberd viết ngày 28/2/1828 thì "Duyệt hầu như là một vị đại
thần duy nhất yêu nước Pháp và nhớ tới công lao của Bá Đa Lộc". Như vậy,
tìm một con bài thân Pháp là một mưu đồ chính trị không che giấu.
Linh-mục J. Marchand - Ảnh
http://en.wikipedia.org/wiki/Joseph_MarchandCó những giáo sĩ can dự vào
những cuộc khởi nghĩa của nông dân. Bắt chước Ba Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh
như Linh-mục J. Marchand (Cố Du), vào thành Phiên An giúp Lê Văn Khôi.
Trong bức thư viết ngày 24/9/1934 tại thành Phiên An, gửi cho Giám-mục
Taberd đang ở Xiêm, Linh-mục Marchand cũng tự mệnh danh là "một chiến sĩ
của những người nổi dậy". Một số giáo sĩ khác nhúng tay vào những cuộc
khởi nghĩa ở Bắc Thành như của Cai Thịnh (Cai Vàng) ở Bắc Ninh, của Quản
Tề ở Quảng Yên. Năm 1837, giáo sĩ Cao-lăng-nê (Cornay?) "thông đồng với
giặc mưu nổi lọan", năm 1826, Giám-mục Xuân (Hémarez) và 10 giáo phẩm
Việt Nam cũng bị xưng ra là có can dự vào "giặc nổi lên ở xứ Đông" [Sử
Ký Hội Thánh, Bùi Chu, 1940, Tr. 516]. Can dự vào những cuộc nổi dậy của
nông dân, các giáo sĩ ngoại quốc mong lợi dụng được sự bất mãn của quần
chúng đối với triều Nguyễn, khoét sâu mâu thuẫn của xã hội Việt Nam,
làm ruồng nát xã hội Việt Nam từ bên trong, che dấu âm mưu của chủ nghĩa
thực dân Pháp."[10]
Về vai trò của các nhà truyền giáo trong vụ loạn Lê Văn Khôi, tác giả
Huy Vũ ghi nhận trong bài viết Mấy Suy Ngẫm Về Sự Gắn Bó Chặt Chẽ Giữa
Việc Đạo và Việc Đời Trong Nửa Đầu Thế Kỷ XIX Ở Nước Ta như sau:
“3.- Giai đoạn 1833-1840: Mở đầu thời kỳ này được đánh dấu bằng cuộc nổi
dậy của Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, chiếm thành Gia Định, đánh
lại triều Nguyễn suốt 3 năm. Tham dự tích cực vào cuộc nổi loan này có
giáo sĩ Marchad – tức Cố Du và nhiều người Công Giáo Việt Nam. Tài liệu
Pháp đã công bố bức thư của Cố Du gửi cho Giám-muc Taberd ở Xiêm, khẳng
định sự hoạt động tham gia cuộc nổi dậy của Cố Du và một bộ phận người
Việt Công Giáo, khẳng định việc cầu viện quân Xiêm. Minh Mệnh giận xử
lăng trì Cố Du và các người cầm đầu khác. Chính sau sự kiện này mới ra
đời các đạo dụ có tính chất luật pháp cấm và giết các giáo sĩ nước ngoài
và các giáo dân không tỉnh ngộ. Chỉ dụ 1836 coi các giáo sĩ lẩn trốn
vào Việt Nam phạm tội “trinh thám ngoại quốc.” [11]
Về hành động xúi gịuc Lê Văn Khôi nổi loạn, sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945- Tập I viết:
“Cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi tại Gia Định Thành trong ba năm
1833-1835, với sự tiếp sức của các giáo sĩ Pháp và giáo dân Việt, khiến
Minh Mạng quyết định phá hủy hầu hết công trình xây cất thành trì của
các chuyên viên Pháp.”[12]
Về hành động xúi giục Tạ Văn Phụng nổi loạn chống triều đình Huế vào thập niên 1860. Sử gia Vũ Ngự Chiêu viết:
“Năm 1858, Phụng theo Rigault de Genouilly tới Đà Nẵng, nhưng rồi bị
Rigault đuổi qua Hong Kong. Từ cuối năm 1861, Phụng rời Hong Kong, lọt
vào giáo khu Đàng Ngoài của (Linh-muc) Retord và được các thủ lãnh tôn
làm vua, dưới tên giả là “Lê Duy Minh.” Nhờ Retord yểm trợ, “Cố” Trường
(Linh-mục Le Grand de Liraye) làm “Mưu chủ”. Phụng quy tụ được khoảng
20,000 (hai chục ngàn) giáo dân, hy vọng lập nên vương quốc Ki-tô ở miền
Bắc. Lực lượng nòng cốt của Phụng là chiến thuyền. Hạm đội của Phụng
ước lượng từ 200 tới 300, trang bị đại bác khá hùng hậu, đặt căn cứ ở
đảo Cát Bà trong Vịnh Bắc Kỳ, Phụng còn liên minh với các nhóm hải tặc
Thanh ở vùng Quảng Yên nên thanh thế rất mạnh. Phụng tung hoành khắp 9
tỉnh miền Bắc (2/3 diện tích) và số dân theo y lên tới 200,000 hay
300,000 người. Giặc Phụng đánh thắng quân triều đình hơn 60 trận, bắt
sống hay giết chết 4 tư lệnh. Năm 1862, thay vì giết tù binh, Phụng cắt
ngón tay cái (poignet) hay 3 ngón, rồi trả tự do. Nhận xét về Phụng,
Linh-mục Theurel, Phụ Tá Giám-mục Jeantet viết:
“Nếu các nhóm phản loạn đoàn kết, chúng có hy vọng thành công. Với ông
vua mới này, con cái cũ của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ có được sự
hòa bình tôn giáo, và dân chúng sẽ theo vua chúng mà theo đạo. Nhưng y
chỉ là một tên giả mạo.” [13]
4. YẾU TỐ ĐỘNG CHẠM VĂN HÓA
Trên đây là những hành động làm nguy hại đến quyền lực và quyền lợi của
riêng triều đình nhà Nguyễn. Ngòai những hành động xấc xược và ngược
ngạo này, còn có vấn đề hết sức trầm trọng khác nữa. Đó là những lời dạy
trong đạo Ki-tô và cung cách hành xử của các giáo sĩ và giáo dân người
Việt đi ngược với nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc và làm nguy hại
đến đạo lý và trật tự xã hội mà bất kỳ người dân nào ở bất kỳ quốc gia
Đông Phương hay các dân tộc nào có văn hiến cũng đều không thể chấp nhận
được. Chẳng hạn như chính quyền và nhân dân Trung Hoa trong thời Nhà
Thanh cũng như các chính quyền sau này đều chống lại mãnh liệt việc các
giáo sĩ Ca-tô đến truyền đạo ở nước họ. Sự kiện này được sách sử ghi
lại như sau:
"Từ trước, đã có những sự xích mích giữa người Trung Hoa và các nhà
truyền giáo, nhưng sự xích mich lần này rất là gay go do hậu quả của
việc người Trung Hoa hiểu lầm về bản chất những họat động của các nhà
truyền giáo. Các nhà truyền giáo và con chiên người Trung Quốc bị tố cáo
là làm những việc phi luân và bất hợp pháp như là "khóet lấy tròng mắt
của các trẻ em để tán làm bột thuốc". Ngoài ra, quy chế ngoại trị pháp
quyền, vịêc tự cho là có độc quyền sự thật về tôn giáo và hành động chỉ
biết có tôn giáo của minh mà không cần biết đến những người thuộc các
tôn giáo khác tất cả làm cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn Vào những
khi có thiên tai thí dụ như nạn đói, các nhà truyền giáo chi phân phối
gạo cho dân Chúa. Sự kiện này khiến cho người Trung Hoa gọi đồng bào của
họ theo đạo Ca-tô là “đạo gạo” (những người theo đạo lấy gạo mà ăn).
Phần lớn các nhà truyền giáo không nói được tiếng Trung Hoa cho có văn
vẻ. Sự kiện này chắc chắn cũng làm cho tình trạng rắc rối thêm. Trong
thế kỷ 19, có những trường hợp cá biệt trong đó các nhà truyền giáo và
nhiều tín đồ Ca-tô người Trung Hoa bị sát hại. Trong mỗi trường hợp,
cường quốc có các nhà truyền giáo bị sát hại nhào vô lấy đó làm cái cớ
để yêu sách Trung Hoa phải nhượng thêm đất đai. Đối với đại đa số
người Trung Hoa, các nhà truyền giáo là những tên gian điệp ngọai quốc
và con chiên Chúa người Trung Hoa là những người vong bản, phản quôc,
phản quê hương. Với tình hình phức tạp như vậy, tất nhiên là lực lượng
nghĩa quân "Quyền Anh" coi các nhà truyền giáo và dân Chúa người Trung
Hoa là mục tiêu đầu tiên của họ.
Giống như các cuộc tranh chấp khác giữa Trung Hoa với các cường quốc Tây
Phương, Phòng Trào Quyền Anh có thể hiểu là do sự va chạm về văn hóa
trong đó có những sự xích mích và tranh chấp hầu như không thể tránh
được. Trong tất cả những người ngoại quốc ở Trung Hoa lúc bấy giờ, có
lẽ không có ai hăng say hơn hay bằng được các nhà truyền giáo. Người
ta có thể tranh luận về việc thích thú gửi các nhà truyền giáo đến một
quốc gia đã có một nền văn minh cao hơn nền văn minh của nước họ. Tuy
nhiên, người ta không thể tranh luận về lòng hăng say và chân thành của
các nhà truyền giáo, những người có niềm tin mãnh liệt rằng họ đang làm
những việc quan trọng nhất mà Thượng Đế muốn họ làm. Họ không đặt ra vấn
đề là công việc làm của họ sẽ mang lại lợi ích cho người Trung Hoa.
Đi đến Trung Hoa làm việc là họ đã hy sinh rất nhiều, thí dụ như phải
sống ở những nơi cô lập, sống trong hoàn cảnh bất tiện, khó chịu và phải
chịu đựng cả những sự quấy phá, nếu không phải là bị viên chức chính
quyền và người Trung Hoa khủng bố. Nếu họ có làm điều gì sai quấy, thì
đó không phải là họ cố ý. Những sự không may của họ thường thường bị
chính quyền của nước họ lợi dụng cho mục đích gây áp lực với chính
quyền Trung Hoa để yêu sách về kinh tế và chính trị trên lãnh thổ Trung
Hoa, chứ không phải là lỗi của họ; cho đến lúc đó, các nhà truyền giáo
quan tâm là họ thích làm cho cả nước Trung Hoa theo đạo Ki-tô một cách
hòa bình. Vào năm 1870, một vị mục sư Tin Lành người Hoa Kỳ nói rằng,
"nếu các viên chức trong chính quyền Trung Hoa không có ảo tưởng về mục
đích thực sự (sic) của các nhà truyền giáo, và nếu công việc truyền
giáo ở Trung Hoa do các nhà truyền giáo lương thiện và khôn ngoan đảm
nhiệm, tôi tin rằng cùng lắm các nhà truyền giáo cũng chỉ gặp phải những
sự chống đối có tính cách thụ động, và theo thời gian với sự giao tình
thân thiện và sự chịu đựng của cả hai bên, mọi sự đều có thể vượt qua.
Không may là cả các nhà truyền giáo lẫn các viên chức trong chính quyền
Trung Hoa đều không công bằng và cũng không khôn ngoan. Ba mươi năm sau
của lời nhận xét trên đây, tổ chức nghĩa quân "Quyền Anh" nhắm vào các
nhà truyền giáo và con chiên người Trung Hoa để tấn công mà không cần
quan tâm gì đến những hậu quả của những việc làm của họ.”" [14]
Những vấn đề mâu thuẩn văn hóa được tóm lược trong bức "Giác Thư Số 7
của Gia Đình Phật Tử Việt Nam" ký tên Nguyên Chánh Lê Công Cầu
(http://sachhiem.net/DOITHOAI/LeCngCau_TranKienCuong.php) như sau:
1/. Dân Tộc Việt Nam có truyền thống luân lý và đạo đức cổ truyền, Thiên
Chúa Giáo du nhập vào Việt Nam đã đi ngược lại nền tảng Tam Cương, Ngũ
Thường mà các triều đại Phong Kiến đã xem như là một hệ thống tư tưởng
cố hữu để duy trì và ổn định đất nước cũng như củng cố vương triều của
mình. Do đó việc cấm đạo là điều hiển nhiên của nhà cầm quyền thời bấy
giờ.
2/. Đất nước Việt Nam là một đất nước phong kiến ảnh hưởng phong kiến
Trung Hoa, nhà vua tự coi mình là bậc Thiên Tử, không thể có một kẻ nào
cao hơn. Trong lúc đó người theo Đạo Thiên Chúa luôn coi Chúa là đấng
chí tôn, là người có quyền lực cao nhất mà đại diện là nhà thờ, cha xứ.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự cai trị của giai cấp thống trị do đó
sự cấm đạo là việc tất yếu của lịch sử.
3/. Việc du nhập Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam đi đôi với gót giày xâm
lược của quân đội viễn chinh, mà không ít giáo dân đã phản bội tổ quốc,
gieo bao tang tóc điêu linh cho Dân Tộc, cho nên những phong trào yêu
nước cực đoan thời bấy giờ như Văn Thân, Cần Vương đã xem giáo dân Thiên
Chúa Giáo là tay sai của thực dân, đó là nguyên nhân đưa đến chủ trương
Bình Tây, Sát Tả bách hại tín đồ Thiên Chúa.
5.- QUYẾT TÂM VẬN ĐỘNG PHÁP LIÊN KẾT VỚI GIÁO HỘI LA MÃ
XUẤT QUÂN CHINH PHỤC VIỆT NAM.
Mặt khác, Tòa Thánh La Mã tiếp tục dồn nỗ lực vào việc vận động nước
Pháp liên kết với Giáo Hội rồi đem quân đội đi chinh phục Việt Nam. Việc
này phải đợi mãi đến đầu thập niên 1850, khi đó Giáo Hội đã bố trí xong
thiếu nữ Eugenie ngoan đạo xinh đẹp, người Tây Ban Nha, trở thành hoàng
hậu của Hoàng Đế Napoleon III (1808-1873). Lúc đó, nhà vua đã sắp bước
vào tuổi ngũ tuần trong khi người thiếu nữ kiều diễm Eugenie
(1826-1920), một tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội, còn mơn-mởn đào tơ, chưa
đầy 27 cái xuân xanh. Nhờ vậy mà các nhà truyền giáo của Giáo Hội mới
dễ dàng lung lạc nhà vua (vốn là hội viên Hội Tam Điểm chống Vatican khi
còn lưu vong ở ngoài nước Pháp) qua người vợ trẻ xinh đẹp này để đẩy
mạnh chiến dịch vận động nhà vua liên kết với Giáo Hội đem quân đi chinh
phục Việt Nam. Đây là một sự thật lịch sử, và sự thật này được Tiến-sĩ
Cao Huy Thuần ghi lại trong cuốn "Đạo Chúa Và Thực Dân Tại Việt Nam" như
sau:
"Chính các vận động để được ủng hộ về sự can thiệp của các nhân vật quan
trọng như Tổng Giám Mục Bonnechose ở Rouen và của chính Hoàng Hậu, bà
này đã thuyết phục được vua, dù lúc đó vua không có kế hoạch thực dân
nào rõ rệt. Các cuộc vận động này được thực hiện bởi hai người truyền
giáo: Linh Mục Huc, hội viên Hội Thánh Lazare (Tu Hội Lazariste), cựu
đại diện Giáo Hoàng ở Trung Quốc, tác giả cuốn "Đạo Thiên Chúa ở Trung
Quốc, (Tartarie và Tây Tạng, và Giám Mục Pellerin, đại diện Giáo Hoàng
tại Bắc Nam Kỳ. “Trong văn thư đệ lên vua, Linh-mục Huc trình bày các
mối lợi mà việc chiếm Việt Nam có thể mang lại cho Pháp….” [15]
“Thất vọng vì sự thất bại của phái đoàn Montigny, theo lời khuyên của
bạn bè, Giám-mục Pellerin quyết định “đi Pháp để trình bày với nhà vua
tình trạng thê thảm của các đoàn truyền giáo do các biện pháp nửa vời
gây nên”. Đến Pháp vào đầu tháng 5 (1857), ngày 16/5, ông trình bày
trước Ủy Ban và ngày 21/5 ông trao cho họ bản thuyết trình đầy đủ chi
tiết trước khi Napoléon tiếp kiến…
Nhưng sự vụ hình như kéo dài sốt ruột, Giám-mục (Pellerin) tin là nên
nhắc lại Napoléon III rằng: “Thần xin Chúa Thượng, chúng ta thấy trong
thư ngày 30/8/1857 của ông, cho phép thần nói đến các người mới theo đạo
khốn khổ ở xứ Cochinchine và các nhà truyền giáo ở xứ An Nam, hiện giờ
máu họ đang đổ và tình cảnh của họ còn kinh khủng hơn từ cuộc vận động
sau chót của nước Pháp không làm gì cho bọn thần, e rằng đạo Thiên Chúa
sẽ bị tận diệt tại các vùng hình như sẵn sàng tiếp đón lợi ích của đạo
Thiên Chúa và văn minh. Thần đến xin Chúa Thượng đừng bỏ rơi bọn thần.
Điều bệ hạ làm cho bọn thần sẽ khiến cho ân phúc của Chúa ban xuống cho
bệ hạ và triều đại huy hoàng của bệ hạ.
Kế đến tháng 11 (1857), Giám-mục Pellerin đi Rôme, Giáo Hoàng Pie XI tán
thành các cuộc vận động ủng hộ cho các phái đoàn truyền giáo.”
Xuyên qua các cuộc can thiệp của Linh-mục Huc và Giám-mục Pellerin,
chúng ta thấy ý tưởng chính sau đây: Cuộc viễn chinh của họ vận động,
nhân danh các người truyền giáo tại Việt Nam, không phải chỉ là cuộc
biểu dương lực lượng đơn thuần hay là một cuộc chiếm đóng tạm thời một
vài địa điểm của nước Việt Nam, mà hoàn toàn là một cuộc viễn chinh thực
dân, vì nhằm xây dựng một thuộc địa Pháp vĩnh viễn ở góc đất này ở Đông
Nam Á. Ý tưởng này được một người truyền giáo khác là Linh-mục Legrand
de La Liraye trình bày mạnh mẽ hơn trong một bản trần trình mà y gửi cho
Napoléon III vào khoảng tháng 2/1857.”[16].
Nhà biên khảo sử học Bùi Trần Phương ghi nhận như sau:
"Quan hệ gắn bó giũa Thiên Chúa Giáo và chủ nghĩa thực dân Pháp là một
thực tế lịch sử phong phú, hiển nhiên đến nỗi không cần lý lẽ biện luận,
thuyết minh thêm. Chỉ xin nhắc lại đôi chút về vai trò các nhà truyền
giáo trong việc hình thành và phê chuẩn kế họach của chính quyền Đế Chế
II cử phó đô đốc Rigault de Genouilly mang hạm đội đến tấn công Đà Nẵng
năm 1858. Các nhà truyền giáo như Linh-mục Huc, Giám-mục Pellerin,
Linh-mục Legrand de la Liraye, Giám-mục Retord... bằng nhiều văn thư và
cả sự có mặt trực tiếp của mình trong các cuộc họp của Ủy Ban Nam Kỳ,
tham gia tích cực vào việc xây dựng kế hoạch tấn công quân sự để đạt
mục tiêu truyền giáo và xâm lược thực dân không chỉ ở một địa phương nào
mà từng bước đi đến chinh phục toàn cõi Việt Nam (...). Các nhà truyền
giáo đã "có công" đề xuất ý kiến vạch kế họach, cung cấp thông tin, hứa
hẹn bảo đảm về hậu thuẫn của dân chúng tại chỗ. Nói tóm lại, chẳng
những hết lòng ủng hộ mà còn gây áp lực chính trị, tinh thần thúc ép các
nhà nước tư bản Pháp, Tây Ban Nha tiến hành một kiểu "thánh chiến" bảo
vệ đạo ở Việt Nam để mưu đồ cầu lợi ích chung của Giáo Hội Thiên Chúa
Giáo và chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản. Trong họat động này, các
nhà truyền giáo có một ưu thế rõ rệt: Họ là những người am hiểu nhất về
tình hình các vùng đất - còn xa lạ với Phương Tây - nơi họ đã xây dựng
và chuẩn bị lực lượng từ rất lâu đời thông qua những hoạt động mang
danh nghĩa là tôn giáo của nhiều thê hệ tu sĩ. Tiếng pháo của hạm đội
Rigault de Genouilly bắn vào Đà Nẵng làm bùng nổ một xung đột đã âm ỉ
từ lâu. Nó cũng phơi bày sự thật hiển nhiên về ý nghĩa chính trị rất
"thế tục" của họat động "truyền giáo" của các giáo sĩ Phương Tây ở Viễn
Đông từ mất thế kỷ trước."[17]
KẾT LUẬN
Ngay sau khi nhận thấy không còn cách nào để biến triều đình Huế thành
một chính quyền bị chi phối bởi Tòa Thánh Vatican, Giáo Hội La Mã liến
chĩa mũi dùi vào triều đình nhà Nguyễn tấn công bằng những chiêu bài:
1.- Xúi giục giáo dân bất tuân luật pháp và nổi lọan chống lại triều đình.
2.- Móc nối các thành phần bất mãn với chính quyền để xúi giục họ nổi
loạn chống lại triều đình Huế và hứa hẹn viện trợ cho họ cả về vật chất
lẫn tinh thần rồi biến họ thành tín đồ Da-tô. (Trường hợp Lê Văn Khôi,
Cai Vàng, v.v…)
3.- Đưa một con chiên bản địa lên làm lãnh tụ nổi lọan rồi ở hậu trường
điều khiển và kêu gọi giáo dân nhập cuộc. (Trường hợp Tạ Văn Phụng).
4.- Tích cực vận động nước Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Đông Dương để cùng chia chác quyền lực và thu vơ lợi nhuận.
Tất cả những những yếu tố trên đây đã khiến cho các Vua Minh Mạng
(1820-1840), Thiệu Trị (1840-1847), và Tự Đức (1847-1883) phải phản ứng
bằng cách ban hành các lệnh cấm đạo trong đó có điều khỏan xử tử những
kẻ có chủ tâm vi phạm các luật này. Tất cả đều được minh thị rõ ràng.
Nhận xét về viêc triều đình nhà Nguyễn ban hành các luật cấm đạo như trên, Giáo-sư Lý Chánh Trung viết:
"Ngày nay, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo và giết đạo
dưới các nhà vua triều Nguyễn, là một hành động bất nhân và sai lầm,
Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các nhà vua ấy, vào các khung
cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn.".Lý
Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 78.
Trên đây là những quái chiêu được Vatican sử dụng để đánh phá Việt Nam
trong thời Nhà Nguyễn trong thế kỷ 19. Từ năm 1975 cho đến nay, Vatican
lại sử dụng những quái chiêu này để đánh phá liên tục chính quyền và
nhân dân ta. Bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này là những hành
động:
1. - Vận động bao vây và cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, như (a) hô
hào người Việt hải ngoại không nên gửi tiền về giúp đỡ thân nhân ở quê
nhà, (b), hô hào tẩy chay hàng hóa Việt Nam được nhập cảng vào Mỹ, (c)
kêu gọi người Việt không nên trở về thăm quê hương, (d) tổ chức những
cuộc biểu tình chống đối các cuộc trình diễn văn nghệ, triển lãm nghệ
thuật và các cuộc thăm viếng của các chính khách cũng như các nhà lãnh
đạo chính quyền đến côn du ở các nước Âu Mỹ, và (e) và tổ chức biểu
tình, hè nhau chửi bới và khủng bố các văn nghệ sĩ từ Việt Nam đến
trình diễn ở hải ngoại.
2.- Tỏ ra hồ hởi và hân hoan sung sướng vào những khi (a) Trung Quốc
xua quân tấn công vào lãnh thổ Việt Nam vào đầu năm 1979 và (b) Tòa Án
Liên Bang Hoa Kỳ bác bỏ đơn kiện các công ty sản xuất chất độc Da Cam
(đem rải xuống lãnh thổ Việt Nam trong những năm 1962-1975) đòi bồi
thường thiệt hại cho nạn nhân do chất độc hóa học này gây nên,
3.- Vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia bị đặc biệt quan tâm (Countries Particular Concerned).
4.- Thành lập Khối 8406 để dánh phá chính quyền Việt Nam. Vấn đề này đã
được trịnh bày khá rõ ràng nơi Chương 10 (với nhan đề là Phản ứng từ các
hàng giáo phẩm đến giáo dân), sách Mối Ác Cảm Của Nhân Dận Thế Giới Đối
Với Giáo Hộ La Mã) và đã được đưa lên sachhiem.net:
http://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/MoiAcCam_Main.php. Xin quý vị vào link
trên đây đọc để biết rõ về cái tổ chức chính trị này của Vatican.
5.- Tổ chức giáo dân mang búa, kìm và xà beng đến tập trung bất hợp pháp
tại những địa điểm bất hớp pháp để gây bạo lọan đòi tái chiếm những
khoản bất động sản mà Vatican đã cướp đoạt của dân ta trong thời
1862-1945 và đã được thu hồi sau năm 1954 như tại (a) số 42 Phố Nhà
Chung Hà Nôi, (b) số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội, (c) Đồng
Chiêm, Hà Nội, (d) Tam Tòa, Hà Tĩnh, (e) An Bằng, Huế, (f) Cồn Dầu, Đà
Nẵng, v.v...
6 .- Biên sọan và phát hành đĩa DVD với những điều tiêu cực và bịa đặt
ra nhiều điều xấu xa nhằm để triệt hạ uy tín cá nhân của cụ Hồ Chí Minh
với dã tâm vừa để vô hiệu hóa đại công nghiệp của Đảng Cộng Sản Việt
Nam dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ trong sứ mạng đánh đưổi Liên Minh Xâm
Lược Pháp - Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ- Vatican để giải phóng dân
tộc, đòi lại chủ quyền độc lập cho tổ quốc, và đem lại thống nhất cho
đất nước, vừa để xí xóa và lấp liếm những khu rừng tội ác của Vatican
và nhóm thiểu số Ca-tô người Việt phản quốc đã cấu kết với hai ngoại
cường Pháp và Hoa Kỳ chống lại tổ quốc và dân tộc ta trong suốt chiều
dài lịch sử từ giữa thế kỳ 19 cho đến ngày 30/4/1975..
7.- Hè nhau viết đơn đề ngày 21/12/2010 tố cáo và yêu cầu ông Chánh Án
Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình truy tố chính quyền Việt Nam về
hai tội phản quốc và yêu nước: http://thangtien.wordpress.com/
*
* *
Vốn dĩ là một thế lực chính tri có dụng tâm dùng danh xưng tôn giáo là
đạo Ki-tô làm bức bình phong để che giấu tham vọng bá quyền thống trị
toàn cầu và nô lê hóa nhân loại bằng đủ mọi thủ đoạn gian manh và đủ mọi
chính sách cực kỳ thâm độc, hết sức tham tàn, và vô cùng dã man, tất
nhiên là Vatican đã có những quỷ kế và hành động chống lại dân tộc và tổ
quốc Việt Nam như họ đã từng chống lại các dân tộc trên thế giới như ở
Âu Châu, ở Châu Phi, ở Châu Mỹ La-tiinh, ở Phi Luật Tân và các dân tộc
khác trên thế giới. Người viết xin miễn bàn thêm.
Thế nhưng, vấn đề đặt ra là giới tu sĩ và con chiên người Việt, họ cũng
là những con người mang dòng máu Việt mà tổ tiên họ cũng đã cùng với tổ
tiên của đại khối dân ta trải qua những bước thăng trầm lịch sử trong
mấy ngàn năm từ cái thuở còn ở trong trạng thái bộ lạc, chưa biết sử
dụng chữ viết cách đây mấy ngàn năm, đã từng "khóc cười theo mệnh nước",
cùng có những nồi lòng lo âu cho vận nước vào những khi quân Bắc cường
Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh tràn vào đất nước tàn phá quê hương, cũng
đã từng cùng nức lòng vui niềm vui vào những khi quân dân ta đánh bại
những quân thù xâm lược trên đây tại Bạch Đằng Giang vào năm 938 (đánh
tan quân Nam Hán, trên sông Như Nguyệt, (sông Cầu) vào năm 1077 (đánh
tan quân Nam Tống, tại Chương Dương vào năm 1285, Hàm Tử vào năm 1285
và Bạch Đằng Giang vào năm 1288 (đánh bại quân Nguyên), tại Ải Chi Lăng
vào năm 1427 (đánh bại quân Minh). Ấy thế mà TẠI SAO từ cuối thế kỷ 18,
họ lại đành lòng cúi đầu gục mặt đi theo giặc Vatican chống tổ quốc và
dồng bào ruột thịt thân thương của họ một cách táng tận lương tâm như
vậy?
Đây là tình trạng biến thái của người Việt theo đạo Ca-tô mà người nào
có thể phủ bác được. Tình trạng biến thái này không phải chỉ xẩy ra đối
với người Việt Nam theo đạo Ca-tô, mà nó đã từng xẩy ra đối với các dân
tộc Âu Châu như người Anh, người Pháp, người Ái Nhĩ Lan, người Đức,
người Tiệp Khác, người Tây Ban cũng như đối với cac dân tộc ở các châu
lục khác như ngườii Nhật Bản, người Trung Hoa, v.v...
Đến đây, người viết nhớ lại lời của nhà đại hiền Tề Án Anh nói với Sở Linh Vương rằng:
"Tôi trộm nghĩ quýt ở xứ Giang Nam, đem trồng ở xứ Giang Bắc dù quýt
ngọt cũng hóa ra chua. Đó là tại phong thổ không giống nhau. Nay người
nước Tề, khi ở nước Tề không ăn trộm, mà đến ngụ ở nơi nước Sở, lại ăn
trộm, đó cũng tại phong thổ cả." (Đông Chậu Liệt Quốc - Quyển 2 - Mộng
Bình Sơn chuyển dịch (Fort Smith, AR: Sống Mới, 1980?), tr. 749.
Từ lời nói trên đây của nhà đại hiền Án Anh, chúng ta có thể hiểu phong
thổ là văn hóa và chúng ta có thể nói rằng người Việt Nam hay người của
bất kỳ dân tộc nào có văn hiến từ ngàn xưa cho đến nay NẾU đã trở thành
tín đồ Ca-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã tức là đã sống theo nếp siống
văn hóa Ca-tô mà họ gọi là "sống theo lương tâm công giáo" hay "sống
đạo theo đức tin Ki-tô", THÌ cũng đều trở thành những hạng người vong
bản, phản quốc, phản dân tộc, mất hết nhân tính, mất hết lương tính bẩm
sinh (nhân chi sơ,tính bản thiện) và đều hành xử giống như vậy cả.
Cũng vì thế mà nhà báo Long Ân mới ghi nhận một cách chua xót rằng:
“Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã
nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu
kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến
cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người
trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam
Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1953 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr.
340.
CHÚ THÍCH
[1] Bắc Kỳ Di Cư. “Đòn Khiêu khích tôn giáo của bọn tay sai Cộng sản.” –
Ngày 10/12/2010 đăng trong "Lá Thư Vô Trách Nhiệm của Ông Chu Tất Tiến"
(http://sachhiem.net/EMAILS/ChuTatTien.php)
[2] Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: TXB, 2001), tr. 187.
[3] Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1988), tr. 140.
[4] Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883- 1945, Tập I (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr 51-52.
[5] Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr. 299 và 300-301.
[6] Phan Phát Huồn, Sđd., tr 355.
[7] Phan Phát Huồn, Sđd., tr.39..
[8] Vũ Ngự Chiêu, Sđd., tr 57-58.
[9] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mờ Đầu Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở
Việt Nam 1858-1897 (Saint Rapael, Pháp: TXB, 1995), tr. 17
[10] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Một Số Vấn Đề Lịch Sử Đạo Thiên
Chúa Trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam (TP Hồ Chí Minh: Ban Tôn Giáo Của
Chính Phủ, 1988),, tr. 33-34.
[11] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Sđd., tr.109-110.
[12] Vũ Ngự Chiêu, Sđd., tr.39.
[13] Vũ Ngự Chiêu, Sđd., tr. 147.
[14] Li, Dun J., The Ageless Chinese A History (New York: Charles Scriber’s Sons, 1978), pp, p.428-429.
Nguyên văn: "That there had been friction between Chinese and
missionaries has been said before; this friction was intensified as a
result of Chinese misunderstanding of the nature of missionary
activities. The Christians were accused of conducting immoral and
illegal activities, such as "extracting eyes from infants to be
commpounded into direful drugs." Besides their extraterritorial status,
their assumed superiority for having embraced the true faith and their
alleged clannishness (in time of famine, for instance, the missionaries
distributed rice only among their converts, derogatorily referred to by
other Chinese as rice Christians) combined to make the situation worse.
That most missionaries could not communicate intelligible Chinese
doubtless increased the confusion. During the nineteenth century, there
were isolated case in which missionaries and converts were murdered,
and in each case the foreign power from which these missionaries came
quickly use the unfortunate occurrences as pretexts for demanding
Chinese territories or other concessions. To the unsophisticated
majority of Chinese, these missionaries were foreign agents and their
Chinese converts were traitors to their own country and culture. Given
the complexity of the situation, it was not surprising that the Boxers'
first target was the missionaries and their Chinese converts.
The Boxer movement, like many other contentions between China and the
Western powers, can best be understood in the context of an overall
cultural confrontation during which friction and conflict were almost
inevitable. Of all foreign groups in China, none was perhaps better
motivated than the misionaries. One might argue about the desirability
of sending mossionaries to a country which had an advanced civilization
of its own; there is no argument, however, about the sincerety of
individual missionaries who believed that they were doing the most
important thing that God willed. There was no question in their minds
that the Chinese would eventually benefit from their work. They made
great personal sacrifices by going to China, lived in uncomfortable,
isolated places, and had to suffer and endure harassment, if not
outright persecution, from the Chinese and their officials. If they did
anything wrong, it was not intended. That their misfortunes had been
often used by their home governments to advance their political and
economic position in China was not their fault; as far as the
missionaries were concerned, they preferred to see China converted to
Christianity in a more peaceful way. "If the [Chinese] officials could
be undeceived in regard to the real purposes of the missionaries; and if
the missions in China could be conducted by really honest and sagacious
men," said an American Minister to China in 1870," I doubt if anything
more than a passive resistance would be met with, which would soon be
overcome by frienndly intercourse and mutual forbearance,"
Unfortunatelly, not all missionaries were sagacious men, nor were
Chinese officials always fair and wise. Thirty years after the above
remark was made, a Chinese mob called Boxers, fell mercilessly upon the
missionaries and their Chinese converts. Their hatred was so bitter that
they cared nothing for the consequences."
[15] Cao Huy Thuần, Sđd., tr 61.
[16] Cao Huy Thuần Sđd., tr. 63-64.
[17] Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, Sđd., tr. 179-180.