Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Những Lời Nguyền Rủa Của Chúa (Ri Nguyễn sưu tầm)

Mời quí vị đọc vài lời nguyề̀n rủa được trích dẫn nguyên văn từ kinh thánh để biết về nhân vật “Thiên Chúa” của các tín đồ Ki-tô giáo có đức độ nào hơn con người bình thường hay không.

Lv 26: 29 Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái mình

Các lời nguyền rủa (Lv 26: 14 -46 )

(14) Song nếu các ngươi không nghe ta, không làm theo các điều-răn nầy, (15) nếu khinh-bỉ mạng-lịnh ta, và tâm-hồn các ngươi nghịch cùng luật-pháp ta, đến nỗi không làm theo những điều-răn ta, mà bội sự giao-ước ta, (16) thì nầy là những điều ta sẽ giáng cho các ngươi: Ta sẽ giáng cho các ngươi sự kinh-khủng, bịnh tổn và rét làm hư-mòn con mắt và nhọc-mệt tâm-hồn. Các ngươi gieo mạ luống công, quân thù-nghịch sẽ ăn hết. (17) Ta sẽ nổi giận cùng các ngươi; các ngươi sẽ bị quân thù-nghịch đánh-đập; kẻ nào ghét các ngươi sẽ lấn-lướt các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn không ai đuổi theo.
(18) Nếu đến đỗi vậy mà các ngươi không khứng nghe ta, ta sẽ vì cớ tội phạm, thêm gấp bảy lần đặng sửa-phạt các ngươi, (19) và ta sẽ dẹp sự kiêu-ngạo về năng-lực các ngươi. Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng; (20) năng-lực mình hao-mòn vô-ích, đất không sanh-sản huê-lợi, cây-cối không kết bông-trái.
(21) Nếu các ngươi phản-đối cùng ta, và không muốn nghe ta, thì ta sẽ tùy theo tội phạm giáng tai-vạ trên các ngươi gấp bảy lần nữa. (22) Ta sẽ sai những thú đồng đến tha con-cái các ngươi đi, ăn hại súc-vật, diệt số người ra ít; và đường-nẻo các ngươi sẽ vắng tanh.
(23) Dẫu đến những việc ấy mà các ngươi cứ không phục sự sửa-phạt ta, cứ phản-đối cùng ta, (24) thì ta đây cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi, và vì cớ tội-lỗi, sẽ giáng tai-vạ cho các ngươi gấp bảy lần nữa. (25) Ta sẽ khiến gươm giáo đến trên các ngươi đặng báo-thù sự giao-ước ta; khi các ngươi hội-hiệp trong những thành mình, ta sẽ giáng dịch-hạch đến giữa các ngươi, và nộp các ngươi vào tay thù-nghịch. (26) Khi ta dẫn sự đói-kém đến, mười người nữ sẽ nướng bánh của các ngươi trong một lò, cân bánh trao lại cho các ngươi; các ngươi sẽ ăn mà không no.
(27) Dẫu đến đỗi vậy, mà các ngươi cứ không khứng nghe ta, còn phản-đối cùng ta, 28) thì ta cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi cách giận-dữ, và vì cớ tội-lỗi các ngươi, sẽ sửa-phạt gấp bảy lần nữa. (29) Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái mình; (30) ta sẽ hủy-diệt những nơi cao các ngươi, phá-đổ những hình mặt trời, và để thây các ngươi chồng trên thây của hình-tượng mình, tâm-hồn ta sẽ ghê-gớm các ngươi. (31) Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ; các nơi thánh quạnh-hiu, và ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của-lễ các ngươi nữa. 32) Ta sẽ làm xứ ra đồi-bại, đến đỗi kẻ thù-nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ. (33) Ta sẽ tản-lạc các ngươi trong các dân và rút gươm ra đuổi theo sau các ngươi: xứ các ngươi sẽ hoang-vu, thành sẽ vắng-vẻ.
(34) Trọn trong lúc đất bỏ hoang-vu, và các ngươi ở trong đất của kẻ thù-nghịch, khi đó đất sẽ được an-nghỉ hưởng những năm sa-bát. (35) Trọn lúc đất bỏ hoang-vu sẽ được an-nghỉ; vì lúc các ngươi còn ở đất đó, nó không được an-nghỉ trong những năm sa-bát của các ngươi. (36) Còn ai trong các ngươi sống sót lại, ta sẽ làm cho họ nhát-gan trong xứ của thù-nghịch mình; tiếng lá khua sẽ làm cho họ chạy trốn, khác nào chạy trốn trước lưỡi gươm, té ngã mà không ai đuổi theo. (37) Người nầy vấp ngã trên người kia như trước ngọn gươm, vốn chẳng ai rượt đuổi theo họ; các ngươi không thể chịu nổi trước mặt quân thù-nghịch mình. (38) Các ngươi sẽ bị chết mất giữa các dân, đất kẻ thù-nghịch sẽ nuốt các ngươi. (39) Ai trong các ngươi còn sống, sẽ vì cớ gian-ác mình và gian-ác của tổ-phụ mà hao-mòn trong xứ kẻ thù-nghịch mình.
(40) Khi ấy, họ sẽ nhận gian-ác mình, và gian-ác của tổ-phụ mình, những tội-lỗi họ đã phạm, và sự chống-trả họ đã cự cùng ta, (41) đến đỗi ta cũng chống trả lại, dẫn họ vào xứ kẻ thù-nghịch. Bấy giờ nếu lòng không chịu cắt-bì của họ sẽ tự hạ mình xuống, và sẽ phục điều sửa-phạt về gian-ác mình, (42) thì ta sẽ nhớ lại sự giao-ước ta đã lập cùng Gia-cốp, cùng Y-sác, cùng Áp-ra-ham, và ta sẽ nhớ lại xứ nầy. (43) Vì xứ bị họ bỏ hoang, sẽ được nghỉ bấy nhiêu năm sa-bát tùy theo họ bỏ hoang-vu bao nhiêu; họ sẽ chịu hình-phạt của gian-ác mình, bởi vì đã khinh-bỉ mạng-lịnh ta, và tâm-hồn họ đã lấy làm ghê-gớm các luật-pháp ta. (44) Dẫu vậy, đương khi họ bị ở trong xứ kẻ thù-nghịch mình, ta cũng chẳng bỏ họ đâu, chẳng ghê-gớm họ đến phải hao-mòn hết, và chẳng bội sự giao-ước ta lập cùng họ đâu, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của họ. (45) Ta vì họ sẽ nhớ lại sự giao-ước đã lập cùng tổ-phụ họ mà ta đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô trước mặt các dân, đặng làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va.
(46) Đó là các điều-lệ, mạng-lịnh, và luật-pháp mà Đức Giê-hô-va nhờ Môi-se, lập ra giữa Ngài cùng dân Y-sơ-ra-ên, tại trên núi Si-na-i.

Đệ Nhị Luật - Chương 28

[https://lavanglasvegas.com/kinhthanh/05_denhiluat/index_3.html]

(15) Nhưng nếu Anh/em không nghe tiếng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em, không lo đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho Anh/em hôm nay, thì những lời nguyền rủa sau đây sẽ đến với Anh/em và bao trùm Anh/em :

(16) Anh/em sẽ bị nguyền rủa trong thành, Anh/em sẽ bị nguyền rủa ngoài đồng. (17) Giỏ của Anh/em và cối nhồi bột của Anh/em sẽ bị nguyền rủa. (18) Con cái của lòng dạ Anh/em, hoa màu của đất đai Anh/em, bò con, chiên con của Anh/em sẽ bị nguyền rủa. (19) Anh (em) sẽ bị nguyền rủa khi vào, Anh/em sẽ bị nguyền rủa khi ra.

(20) ĐỨC CHÚA sẽ khiến Anh/em mắc tai hoạ, phải hoảng sợ, bị đe doạ, trong mọi công việc tay Anh/em làm, cho đến khi Anh/em bị tiêu diệt và mau lẹ biến mất, vì sự gian ác Anh/em làm khi lìa bỏ ĐỨC CHÚA. (21) ĐỨC CHÚA sẽ cho ôn dịch bám vào Anh/em, cho đến khi nó tận diệt anh (em), khiến Anh/em không còn trên đất Anh/em sắp vào chiếm hữu. (22) ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em bị suy mòn, nóng sốt, viêm, phỏng, bị hạn hán, và làm cho lúa mì bị úa vàng, bị sâu đục: các thứ đó sẽ theo sát Anh/em cho đến khi anh (em) biến mất. (23) Trời của Anh/em, trên đầu Anh/em, sẽ là đồng, đất dưới chân Anh/em sẽ là sắt. (24) Thay vì làm mưa trên đất Anh/em, ĐỨC CHÚA sẽ cho cát và bụi từ trời rơi xuống, cho đến khi Anh/em bị tiêu diệt.

(25) ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em bị đánh bại trước mặt quân thù: khi ra đánh chúng, Anh/em cùng đi một lối, lúc phải trốn chúng, Anh/em tháo chạy bảy đường. Anh/em sẽ làm cho mọi dân tộc trên mặt đất phải gớm ghiếc. (26) Xác chết của Anh/em sẽ làm mồi cho mọi chim trời, và cho các thú vật trên mặt đất, mà không ai xua đuổi chúng.

(27) ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em bị ung nhọt Ai-cập, bị u bướu, ghẻ lở, ngứa ngáy, mà không thể chữa khỏi. (28) ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em bị điên khùng, mù loà, loạn trí. (29) Anh/em sẽ mò mẫm giữa trưa, như người mù mò mẫm trong bóng tối, và sẽ không thấy đường mà đi.

(30) Anh/em sẽ đính hôn với một phụ nữ, nhưng người khác sẽ cưỡng hiếp nàng; Anh/em sẽ xây nhà, nhưng không được ở, sẽ trồng vườn nho, nhưng không được hưởng trái đầu tiên. (31) Bò của Anh/em sẽ bị hạ trước mắt Anh/em, mà Anh/em không được ăn thịt; lừa của Anh/em sẽ bị cướp trước mặt Anh/em và sẽ không trở về với Anh/em; chiên dê của Anh/em sẽ bị nộp cho quân thù, mà không ai cứu giúp Anh/em . (32) Con trai con gái của Anh/em sẽ bị nộp cho một dân khác; mắt Anh/em sẽ chứng kiến và suốt ngày mòn mỏi trông chờ chúng, nhưng Anh/em đành chịu bó tay. (33) Hoa màu của đất đai Anh/em và tất cả công lao vất vả của Anh/em, thì một dân Anh/em không biết sẽ được hưởng; mãi mãi, Anh/em sẽ chỉ là người bị áp bức, bị hành hạ. (34) Anh/em sẽ ra điên khùng vì cảnh tượng mắt Anh/em chứng kiến. (35) ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em bị ung độc không thể chữa lành ở đầu gối và ở đùi, từ bàn chân cho tới đỉnh đầu.

(36) ĐỨC CHÚA sẽ bắt Anh/em và vua mà Anh/em tôn lên cai trị anh (em), đi đến với một dân tộc Anh/em và cha ông Anh/em không biết, tại đó Anh/em sẽ phụng thờ các thần khác, là gỗ, là đá. (37) Anh/em sẽ trở nên nỗi kinh hoàng, nên trò cười, nên đầu đề châm chọc cho mọi dân ở những nơi ĐỨC CHÚA sẽ dẫn Anh/em đến.

(38) Hạt giống Anh/em mang ra đồng thì nhiều, nhưng chỉ thu hoạch được ít, vì châu chấu sẽ phá hết. (39) Anh/em sẽ trồng và chăm sóc vườn nho, nhưng rượu Anh/em sẽ không được uống và cả trái nho cũng chẳng được hái, vì sâu bọ sẽ ăn mất. (40) Anh/em sẽ có những cây ô-liu trên toàn lãnh thổ Anh/em, nhưng không có dầu mà xức, vì trái ô-liu của Anh/em sẽ rụng. (41) Anh/em sẽ sinh con trai con gái, nhưng chúng sẽ không thuộc về anh (em), vì chúng sẽ bị đi đày. (42) Mọi cây cối và hoa màu của đất đai Anh/em sẽ bị bọ dừa phá hoại.

(43) Người ngoại kiều giữa Anh/em sẽ đi lên, lên mãi, vượt hẳn anh (em); còn Anh/em sẽ đi xuống, xuống mãi. (44) Họ sẽ cho Anh/em vay mượn, còn Anh/em sẽ không có gì cho họ vay mượn. Họ sẽ đứng đầu, còn Anh/em sẽ đứng cuối.

(45) Những lời nguyền rủa này sẽ đến với Anh/em, theo sát và bao trùm Anh/em, cho đến khi Anh/em bị tiêu diệt, vì Anh/em không nghe tiếng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em, không giữ các mệnh lệnh và thánh chỉ của Người mà Người truyền cho Anh/em . (46) Những điều ấy sẽ nên dấu lạ điềm thiêng cho Anh/em và dòng dõi Anh/em đến muôn đời.

Viễn tượng chiến tranh và tù đày

(47) Vì Anh/em đã không phụng thờ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em, với tâm hồn vui sướng bởi có đầy đủ tất cả, (48) nên trong cảnh đói khát, trần truồng và thiếu thốn tất cả, Anh/em sẽ phải phục vụ quân thù của Anh/em, những kẻ ĐỨC CHÚA sẽ sai đến đánh Anh/em . Người sẽ đặt ách sắt trên cổ anh (em), cho đến khi chúng tiêu diệt Anh/em .

(49) Để chống lại Anh/em, ĐỨC CHÚA sẽ đưa một dân tộc từ xa, từ cùng cõi đất, phóng đến như đại bàng, một dân tộc mà Anh/em không biết tiếng, (50) mặt mày cứng cỏi, già không nể, trẻ không thương. (51) Nó sẽ ăn đàn con của gia súc Anh/em, hoa màu của đất đai Anh/em, cho đến khi Anh/em bị tiêu diệt; nó sẽ không để lại cho Anh/em lúa mì, rượu mới, dầu tươi, bò con, chiên con, cho đến khi nó làm cho Anh/em biến mất. (52) Nó sẽ vây hãm Anh/em trong mọi thành của Anh/em, cho đến khi các tường thành cao và kiên cố mà anh (em) tin tưởng, phải sụp đổ, trong khắp đất của Anh/em; nó sẽ vây hãm anh (em) trong mọi thành của Anh/em, trong khắp đất của Anh/em mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em, ban cho Anh/em . (53) Khi bị vây hãm, bị quân thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, Anh/em sẽ ăn con cái của lòng dạ Anh/em, ăn thịt con trai con gái Anh/em mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em, ban cho Anh/em . (54) Người đàn ông hào hoa phong nhã nhất trong Anh/em sẽ nhìn người anh em mình, người vợ mình đã từng âu yếm, và những đứa con còn giữ lại được, với cặp mắt dữ dằn, (55) vì không muốn chia cho ai trong những người này chút thịt những đứa con mà người ấy đang ăn, bởi lẽ người ấy không còn gì nữa, khi anh (em) bị vây hãm, bị kẻ thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, trong mọi thành của Anh/em . (56) Người đàn bà liễu yếu đào tơ vào bậc nhất trong Anh/em, mềm yếu và nhã nhặn đến đỗi chưa hề thử đặt bàn chân xuống đất, sẽ nhìn người chồng mình đã từng âu yếm và con trai con gái mình với cặp mắt dữ dằn;(57) ngay cả cái nhau từ trong lòng mình xổ ra và đứa con mình sinh ra, nàng sẽ lén ăn cả hai, bởi lẽ nàng thiếu tất cả, khi Anh/em bị vây hãm và bị kẻ thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, trong các thành của Anh/em .

(58) Nếu Anh/em không lo đem ra thực hành tất cả những lời của Luật này, chép trong sách này, và kính sợ danh hiển hách và khả uý này: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em , (59) thì ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Anh/em và làm cho dòng dõi Anh/em phải mang những vết thương lạ, những vết thương nặng và dai dẳng, những bệnh ác độc và dai dẳng. (60) ĐỨC CHÚA sẽ cho trở lại với Anh/em mọi dịch tễ của Ai-cập, mà Anh/em kinh hãi, những dịch tễ ấy sẽ bám vào Anh/em . (61) Cả mọi bệnh hoạn và mọi vết thương không được chép trong sách Luật này, ĐỨC CHÚA cũng giáng xuống trên Anh/em, cho đến khi Anh/em bị tiêu diệt. (62) Sau khi đã trở nên nhiều như sao trên trời, anh (em) sẽ chỉ còn lại một số người ít ỏi, vì Anh/em không nghe tiếng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Anh/em .

(63) Cũng như ĐỨC CHÚA đã lấy làm vui khi cho anh em được hạnh phúc và nên đông đúc, thì Người cũng sẽ lấy làm vui khi để cho anh em bị giết chết, bị tiêu diệt, và bị bứng khỏi miền đất mà Anh/em sẽ vào chiếm hữu. (64) ĐỨC CHÚA sẽ phân tán Anh/em vào giữa mọi dân, từ đầu đến cuối mặt đất, tại đó, Anh/em sẽ phụng thờ các thần khác, là gỗ, là đá, những thần mà Anh/em và cha ông Anh/em không biết. (65) Ở giữa các dân tộc ấy, Anh/em sẽ không được yên hàn và không có chỗ đặt bàn chân; tại đó, ĐỨC CHÚA sẽ làm cho lòng Anh/em xao xuyến, đôi mắt mỏi mòn, tâm hồn kiệt quệ. (66) Mạng sống Anh/em sẽ treo lơ lửng trước mặt Anh/em; đêm ngày Anh/em sẽ khiếp sợ, Anh/em sẽ không tin mình còn được sống. (67) Ban sáng Anh/em sẽ nói: "Bao giờ mới đến chiều? "; ban chiều Anh/em sẽ nói: "Bao giờ mới đến sáng? ", vì nỗi khiếp sợ tràn ngập tâm hồn Anh/em và vì cảnh tượng mắt Anh/em chứng kiến. (68) ĐỨC CHÚA sẽ bắt Anh/em đi thuyền, đi bộ trở lại đất Ai-cập mà tôi đã nói với Anh/em : "Anh/em sẽ không còn thấy lại đất này nữa! " Tại đó, Anh/em sẽ bán mình làm tôi trai tớ gái cho quân thù của Anh/em, mà chẳng có ai mua! "

(69) Đây là những lời của giao ước mà ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê lập với con cái Ít-ra-en tại đất Mô-áp, không kể giao ước Người đã lập với họ tại núi Khô-rếp.

Thượng Đế Sai Bộ Hạ Đi Giết Người, Cướp Của, Bắt Gái Trinh Về Hưởng Lạc

Dân Số 31:
http://www.conggiaovietnam.net/kinhthanh/cuuuoc.htm

Phân Chia Chiến Lợi Phẩm Và Đất Đai

Thánh chiến chống Ma-đi-an

(1) ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê:(2) "Hãy trả thù người Ma-đi-an cho con cái Ít-ra-en, rồi ngươi sẽ về sum họp với gia tiên ngươi."

(3) Ông Mô-sê nói với dân: "Một số người trong anh em hãy chuẩn bị sẵn sàng để ra trận tiến đánh Ma-đi-an, để trả thù dân ấy cho ĐỨC CHÚA. (4) Anh em sẽ sai người ra trận; cứ mỗi chi tộc trong các chi tộc Ít-ra-en, thì lấy một ngàn người."

(5) Trong số ngàn vạn người Ít-ra-en, người ta tuyển mộ mỗi chi tộc một ngàn người, tức là mười hai ngàn người được chuẩn bị sẵn sàng để ra trận. (6) Ông Mô-sê sai họ ra trận, mỗi chi tộc một ngàn người; cùng ra trận với họ, có ông Pin-khát, con của tư tế E-la-da, tay cầm các đồ thánh và kèn thúc quân.

(7) Họ đã ra trận, tiến đánh Ma-đi-an, như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê, và họ giết tất cả đàn ông con trai. (8) Ngoài những người đã bị sát hại đó, họ còn giết các vua Ma-đi-an: E-vi, Re-kem, Xua, Khua, Re-va, là năm vua Ma-đi-an; rồi họ dùng gươm giết ông Bi-lơ-am, con ông Bơ-o. (9) Con cái Ít-ra-en bắt phụ nữ Ma-đi-an và con cái chúng làm tù nhân; họ đã lấy mọi thú vật, mọi súc vật và mọi của cải chúng làm chiến lợi phẩm. (10) Họ nổi lửa đốt tất cả các thành dân đó ở và mọi lều trại của chúng. (11) Sau đó họ lấy mọi chiến lợi phẩm và tất cả những gì họ chiếm được, cả người lẫn thú vật, (12) rồi đem các tù nhân và những gì đã chiếm được cũng như chiến lợi phẩm về trại, về vùng thảo nguyên Mô-áp gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, để nộp cho ông Mô-sê, cho tư tế E-la-da và cộng đồng con cái Ít-ra-en.

Tàn sát phụ nữ và thanh tẩy chiến lợi phẩm

(13) Ông Mô-sê, tư tế E-la-da và mọi thủ lãnh của cộng đồng ra gặp họ ở ngoài trại. (14) Ông Mô-sê nổi giận với các tướng lãnh, với các vị chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đi trận trở về. (15) Ông Mô-sê nói với họ: "Sao anh em lại để cho cả bọn đàn bà này sống?(16) Chính bọn chúng đã nghe lời Bi-lơ-am, mà lôi cuốn con cái Ít-ra-en phạm tội bất trung với ĐỨC CHÚA trong vụ Pơ-o, nên tai hoạ đã giáng xuống cộng đồng của ĐỨC CHÚA. (17) Vậy bây giờ, hãy giết hết các con trai, cũng như mọi phụ nữ đã biết đến việc vợ chồng, đã ăn ở với đàn ông. (18) Còn mọi con gái nhỏ tuổi chưa ăn ở với đàn ông, thì hãy để cho chúng sống và thuộc về anh em. (19) Về phần anh em, ai đã giết người, ai đã đụng tới người bị sát hại, hãy đóng quân ngoài trại trong bảy ngày. Anh em cũng như các tù nhân đều phải thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và thứ bảy. (20) Anh em phải thanh tẩy mọi quần áo, mọi đồ bằng da, mọi sản phẩm bằng lông dê và mọi đồ gỗ."

(21) Tư tế E-la-da nói với các binh lính đã đi chiến đấu: "Đây là quy tắc pháp luật ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê:(22) Chỉ có vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì, (23) nghĩa là tất cả những gì chịu được lửa, anh em mới phải cho qua lửa để các vật ấy được sạch; tuy nhiên, các vật ấy phải được thanh tẩy bằng nước tẩy uế. Tất cả những gì không chịu được lửa, thì anh em phải nhúng vào nước.

(24) Anh em phải giặt quần áo ngày thứ bảy và anh em sẽ được sạch, rồi sau đó mới trở vào trại."

Phân chia chiến lợi phẩm

(25) ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê:(26) "Cùng với tư tế E-la-da và các gia trưởng trong cộng đồng, ngươi hãy làm sổ kê khai những gì đã lấy được, đã bắt được, người cũng như súc vật. (27) Rồi ngươi hãy chia những gì đã lấy được: một nửa cho các chiến sĩ đã ra trận và một nửa cho toàn thể cộng đồng. (28) Sau đó, từ phần dành cho các chiến sĩ đã ra trận, ngươi sẽ trích ra một phần năm trăm số người, bò bê, lừa và chiên cừu, để làm thuế nộp cho ĐỨC CHÚA. (29) Anh em sẽ lấy phần đó trong phần dành cho các chiến sĩ mà trao cho tư tế E-la-da, làm phần trích dâng ĐỨC CHÚA. (30) Còn trong phần dành cho con cái Ít-ra-en, ngươi sẽ chọn lấy một phần năm mươi số người, bò bê, lừa, chiên dê, mọi thú vật, rồi trao cho các thầy Lê-vi có nhiệm vụ canh giữ Nhà Tạm của ĐỨC CHÚA."

(31) Ông Mô-sê và tư tế E-la-da làm như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê. (32) Những của đoạt được, những phần còn lại của chiến lợi phẩm mà các người tham chiến đã chiếm lấy, là 675.000 chiên dê, (33) 72.000 bò bê, (34) 61.000 con lừa, (35) và nhân mạng, tức là những phụ nữ chưa ăn ở với đàn ông, tất cả là 32.000 người. (36) Một nửa phần chiến lợi phẩm chia cho các người đã ra trận là: 337 500 chiên dê, (37) trong số đó, thuế nộp cho ĐỨC CHÚA là 675 con;(38) 36.000 bò bê, trong số đó, thuế nộp cho ĐỨC CHÚA là 72 con;(39) 30.500 con lừa, trong số đó, thuế nộp cho ĐỨC CHÚA là 61 con;(40) 16.000 nhân mạng, trong số đó, thuế nộp cho ĐỨC CHÚA là 32 mạng (Gái Trinh-Ri Nguyễn) . (41) Ông Mô-sê đã trao cho tư tế E-la-da phần trích dâng ĐỨC CHÚA, như Người truyền cho ông Mô-sê.

(42) Còn nửa phần chiến lợi phẩm kia được chia cho con cái Ít-ra-en, ông Mô-sê đã tách ra khỏi phần chia cho các người đã ra trận;(43) nửa phần đó thuộc về cộng đồng, gồm có 337.500 chiên dê, (44) 36.000 bò bê, (45) 30.500 con lừa, (46) 16.000 nhân mạng. (47) Trong nửa phần đã chia cho con cái Ít-ra-en, ông Mô-sê chọn lấy một phần năm mươi số người và thú vật, rồi trao cho các thầy Lê-vi có nhiệm vụ canh giữ Nhà Tạm của ĐỨC CHÚA, như Người truyền cho ông Mô-sê.

Các lễ phẩm

(48) Bấy giờ, các tướng lãnh, các vị chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đến gần ông ông Mô-sê (49) và nói: "Các tôi tớ ngài đã kiểm lại số những người chiến đấu dưới quyền chúng tôi, và không thấy thiếu một người nào cả. (50) Vậy chúng tôi đem những đồ bằng vàng mà mỗi người đã tìm thấy, làm lễ tiến dâng lên ĐỨC CHÚA, để cử hành lễ xá tội cho chúng tôi trước nhan ĐỨC CHÚA. Những đồ bằng vàng đó là vòng cổ tay, vòng cánh tay, nhẫn, khuyên tai và kiềng." (51) Ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã nhận vàng họ dâng và mọi đồ kim hoàn. (52) Tổng cộng số vàng họ đã trích ra để dâng ĐỨC CHÚA là một trăm bảy mươi ký, được các chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đem nộp.

(53) Trước đó, ai nấy trong quân đội đều đoạt phần chiến lợi phẩm cho mình. (54) Cho nên, ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã nhận vàng của các vị chỉ huy một ngàn quân và một trăm quân, rồi mang đến Lều Hội Ngộ, làm kỷ vật tưởng nhớ con cái Ít-ra-en trước nhan ĐỨC CHÚA. 

Kết luận:

Thượng Đế-Chúa Tên Dâm Tặc Khát Máu

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Lời thề của các Tu Sĩ Dòng Tên với Giáo Hoàng

Giờ này, trước sự hiện diện của Chúa toàn năng, sự cứu rỗi của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, của các thiên thần Michael, của Thánh John Baptist, các Thánh Tông Đồ Peter và Paul, và tất cả các vị Thánh Thần trên Thiên Đàng, và với Cha, vị Cha tinh thần của con, Cha bề trên của Giáo Hội Chúa Jésus, do Thánh Ignatius Loyola sáng lập trong nhiệm kỳ Giáo Hoàng Giáo Hoàng Paul III, và tiếp tục đến ngày nay, được tạo thành từ sự trinh nguyên, khuôn mẫu của Chúa và quyền năng của Chúa cứu thế Jésus.

Xin tuyên thệ rằng:
- Sự Thánh Linh của Giáo Hoàng là đại diện của Chúa Cứu Thế, xứng đáng là thủ lãnh duy nhất của Giáo Hội Gia Tô hay Giáo Hội Toàn Cầu; và theo bí quyết của sự ràng buộc và buông lơi đã được đấng cứu thế, Chúa Jésus ban cho, ngài có quyền năng truất bỏ các vị vua chúa dị giáo, các quốc gia, các nước công hòa quốc dân và các chính quyền, tất cả đều bất hợp pháp nếu họ không chịu phép bí tích của Chúa và chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt.
- Do đó, với quyền lực tối hậu của con, con sẽ cương quyết bảo vệ đường lối, quyền năng và tập quán của Đức Thánh Cha để chống lại tất cả những kẻ tiếm vị, những tên dị giáo hay giới chức Tin Lành và đối với tất cả những kẻ liên đới, chúng sẽ bị tước đoạt và bị coi là dị giáo, chống lại quyền bất khả xâm phạm của Giáo Hội Đức Mẹ La Mã (Mother Church of Rome).
- Giờ đây con xin tuyên bố từ bỏ mọi bổn phận như là món nợ đối với bất cứ tên Vua Chúa dị giáo hay quốc gia mệnh danh là Tin Lành hay Tự Do hoặc tuân theo bất cứ điều luật tài phán hay viên chức nào của họ.
- Con xin tuyên hứa thêm rằng, con sẽ không có ý kiến hay quyết định của riêng mình, ngay cả đặc nhượng tinh thần, thể xác, nhưng con không ngần ngại tuân theo mệnh lệnh của Cha Bề Trên trong Vệ Binh của Giáo Hoàng và của Chúa Jésus.

Con xin tuyên hứa thêm rằng:
- Trong mọi trường hợp nếu có dịp, con sẽ tạo ra chiến tranh và tham chiến một cách bí mật hay công khai chống lại tất cả những kẻ dị giáo, Tin Lành và Tự Do mà không hề do dự. Khi được lệnh thi hành, con sẽ tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên này trên khắp mặt địa cầu, con sẽ không từ một kẻ nào: không kể tuổi tác, đàn ông hay đàn bà, con sẽ treo cổ chúng, thiêu chúng, bỏ vào thùng nước sôi, lột da, siết cổ hay chôn sống những kẻ dị giáo, mổ bụng, moi bào thai trong tử cung vợ chúng ra và đập nát đầu những hài nhi vào tường, trong mục đích hủy diệt một dân tộc đáng ghét.
- Khi nhiệm vụ kể trên không thể thi hành một cách công khai, con sẽ BÍ MẬT DÙNG LY THUỐC ĐÔC, DÙNG DÂY THẮT CỔ, DAO GĂM HAY ĐẠN CHÌ, không cần biết đến danh giá, cấp bậc, phẩm hạnh hay quyền hạn của một người hay một nhóm nào, bất cứ hoàn cảnh nào của họ trong cuộc sống, dù đời công hay cá nhân, bất cứ khi nào được lệnh thi hành của bất cứ vị đại diện nào của Giáo Hoàng hay Cha Bề Trên, của tình Huynh Đệ của Hội Thánh Linh Chúa Jésus.
- Trong sự xác quyết tuyên thệ, con xin dâng hiến đời con, linh hồn con, và tất cả quyền năng cụ thể của con, và với lưỡi dao 'Thánh Giáo ' mà con hiện đã nhận được, con sẽ viết tên con bằng chính máu của con, trong lời thề này; nếu con giả dối hay yếu mềm trong quyết định của con, thì người đại diện hay bạn đồng ngũ, vệ binh của Giáo Hoàng có thể cắt bỏ tay chân con, cưa cổ con từ tai này qua tai kia, banh bụng con nhét lưu huỳnh vào mà đốt, con xin chịu tất cả những hình phạt đau đớn trên trái đất và linh hồn con sẽ bị quỷ sứ dưới địa ngục hành hạ đời đời."

Những Kinh Dạy Giết Người, Cướp Của, Bắt Gái Trinh,.. Phát Hành Khắp Nơi

Xin bạn đọc cứ thoải mái kiểm lại trong các quyển kinh thánh.

⊙ Phục Truyền luật lệ ký [Chương12, đoạn 2-7] dạy: Phải vằm nát và đốt tất cả những nơi thờ tự của những kẻ ngoại đạo, phá bỏ tất cả những ông Thần mà họ thờ…

⊙ Thi Thiên [Psalm, 137: 9]: Phúc cho những ai bắt con trẻ của người Ba-bi-lon mà đập vào đá cho chết.

⊙ 1 Samuel [15: 2-3]: Hãy đánh dân A-me-léc và phải giết mọi súc vật của chúng, nam nữ giết hết, con trẻ còn bú, bò, chiên, lạc đà phải giết hết.

⊙ MA-THI-Ơ: 10: 34-Chớ tưởng rằng ta đến để đem bình an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm dáo. 35-Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với bà gia; 36-và người ta sẽ có kẻ thù nghịch, là người nhà mình. 37-Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta;

⊙ LU-CA: 12: 51: Các ngươi tưởng ta đến đem sự bình an cho thế gian sao? Ta nói cùng các ngươi, không, nhưng thà đem sự phân rẽ. 52-Vì từ nay về sau, nếu năm người ở chung một nhà, thì sẽ phân li nhau, ba người nghịch cũng hai, hai người nghịch cùng ba; 53- cha nghịch cùng con trai, con trai nghịch cùng cha; mẹ nghịch cùng con gái, con gái nghịch cùng mẹ; bà gia nghịch cùng dâu, dâu nghịch cùng bà gia.

⊙ LU-CA: 14: 26- Có đoàn dân đông cùng đi với Đức Chúa Giê-su; ngài xây lại cùng họ mà phán rằng: Nếu có ai đến theo ta mà không căm ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta.

⊙ LU-CA: 19: 27- Hãy đem kẻ thù của ta ra đây. Những kẻ không chịu thờ kính ta trên họ, và chém đi trước mặt ta.

⊙ Malachi, chương 2: "Nếu ai không nghe lời ta và không làm rạng danh ta, Chúa Trời sẽ trét phân lên mặt người đó"

⊙ Matthew 23: 9: "Không được gọi ai trên trái đất này là cha, vì các ngươi chỉ có một cha ở trên trời"

⊙ Jeremiah: 19: 9: “Và ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt con trai, con gái của chúng nó, và chúng nó sẽ ăn thịt lẫn nhau, người nọ ăn thịt người kia”
(And I will make them eat the flesh of their sons and the flesh of their daughters; and they will eat each one the flesh of his fellowman).

⊙ Isaiah: 13: 9-15-18: “Hãy chứng kiến ngày Chúa đến, độc ác vì tức giận và hết sức phẫn nộ. Tất cả mọi người bắt gặp phải được đem tới. Con cái của họ bị xé ra từng mảnh trước mặt họ và vợ của họ bị hãm hiếp”
(Behold, the day of the Lord cometh, cruel both with wrath and fierce anger...Every one that is found shall be thrust through...Their children also shall be dashed to pieces before their eyes...and their wives ravished).

⊙ XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ: 22: 20- Kẻ nào tế các thần khác hơn một mình Đức Giê-Hô-Va sẽ bị diệt

⊙ DÂN SỐ KÝ: Chương 31:

1-Đức Giê-Hô-Va lại phán cùng Môi-Se rằng: 2-Hãy báo thù dân Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên; rồi ngươi sẽ được về cùng tổ phụ. 3-Vậy, Môi-se truyền cho dân sự rằng: Trong các ngươi hãy sắm sửa binh khí mà ra trận hãm đánh dân Ma-đi-an đặng báo thù dân đó cho đức Giê-hô-va. 4-về mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên, các ngươi phải sai một ngàn lính ra trận.

5-Vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên người ta cứ mỗi chi phái chọn một ngàn lính, là mười hai ngàn người sắm sửa binh khí đặng ra trận. 6-Môi se sai mười hai ngàn người đó ra trận, tức là sai một ngàn người về mỗi chi phái, với Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, đem đi theo mình những khí giới thánh cùng kèn có tiếng vang. 7-Vậy, chúng giao chiến cùng dân Ma-đi-an, y như Đức Giê-Hô-Va đã phán dặn Môi-se, và giết hết thảy nam đinh. 8-Trong các người bị giết chúng cũng giết năm vua Ma-đi-an, là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba; cũng lấy gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô. 9-Dân Y-sơ-ra-ên bắt đờn bà và con nít Ma-đi-an dẫn theo, cướp hết thảy súc vật, bầy chiên và của cải họ. 10-đốt hết những thành, nhà ở, và hương thôn chúng nó, 11-cũng lấy đem theo hết thảy của đoạt được, bất kỳ người hay vật. 12-chúng dẫn những kẻ bị bắt và những của đoạt được đến cho Moi-se, cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và cho hội dân Y-sơ-ra-ên đương đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.

13-Bãy giờ, Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và hết thảy hội trưởng đi ra đón rước chúng binh ngoài trại quân.

14-Môi-se nổi giận cùng các quân trưởng, tức là quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân đi đánh giặc này trở về.

15-Môi-se nói cùng họ rằng; các ngươi để hết thảy người nữ còn sống sao?

16-Kìa, ấy là chúng nó theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên cúng thờ Phê-rô, và phạm một tội trọng cùng Đức Giê-hô-va; và tội đó xui cho hội chúng của Đức Giê-hô-va bị tai vạ.

17-Vậy bây giờ, hãy giết hết thảy nam đinh trong bọn con trẻ, và giết người nữ nào đã kết bạn cùng một người nam;

18-nhưng hãy để sống cho các ngươi hết thảy con gái chưa hề kết bạn cùng người nam.

19-Còn về phần các ngươi, hãy đóng trại ngoài trại quân trong bảy ngày. Ai có giết một người và có đụng đến một xác chết, thì ai đó cùng kẻ bị bắt, phải dọn cho mình được sạch ngày thứ ba và ngày thứ bảy.

20-Cũng phải làm cho sạch hết thảy áo xống, mọi vật bằng da, mọi vật bằng lông dê, và mọi đồ vật bằng cây.

21-Ê-lê-sa, thầy tế lễ, nói cùng những lính đi trận về, mà rằng: Nầy là đều luật pháp dạy mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se:

22-vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,

23-tức là mọi vật đưa vào lửa được, thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa đặng luyện nó; nhưng người ta cũng phải dùng nước tẩy uế mà làm cho nó được sạch nữa. Còn mọi vật chi không đưa qua lửa được, thì phải ngâm nó trong nước.

24-Ngày thứ bảy các ngươi phải giặt áo xống mình, thì sẽ được sạch; đoạn mới được vào trại quân. (làm như thế là sẽ được sạch sẽ hết các tội giết người, cướp của, hiếp gái trinh...v..v..ngày nay thì phải xưng tội với Cha mới được sạch sẽ -TCT)

25-Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

26-Ngươi, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các quan trưởng của những tông tộc, hãy dựng sổ về của giặc mà người ta đã đoạt được, nào người, nào vật,

27-rồi chia của đó cho các người đã ra trận và cho cả hội chúng.

28-Trong phần thuộc về quân binh đã ra trận, hoặc người, hoặc bò, hoặc lừa hay chiên, ngươi phải cứ thâu một phần trong năm trăm mà đóng thuế cho Đức Giê-hô-va,

29-tức phải thâu thuế đó trong phân nửa thuộc về quân binh và giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va.

30-Còn trong phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, hoặc người, hoặc bò, hay lừa hay chiên, tức các súc vật, ngươi phải cứ mỗi năm chục mà để riêng ra một, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền tạm của Đức Giê-hô-va.

31-Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

32-Vả, của giặc còn lại mà quân binh cướp lấy được, là sáu trăm bảy mươi lăm ngàn con chiên cái;

33-bảy mươi hai ngàn con bò,

34-sáu mươi mốt ngàn con lừa đực.

35-Người nữ chưa kết bạn cùng người nam nào (trinh nữ-TCT), hết thảy được ba mươi hai ngàn người. (trinh nữ-TCT)

36-Phân nửa thuộc về kẻ đã đi trận, là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con chiên cái,

37-đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là sáu trăm bảy mươi lăm con;

38-ba mươi sáu ngàn con bò, đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là bảy mươi hai con;

39-ba mươi ngàn năm trăm con lừa đực, và đóng thuế cho Đức Giê-hô-va sáu mươi mốt con;

40-mười sáu ngàn người (trinh nữ-TCT), và đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là ba mươi hai người. (trinh nữ-TCT)

41-Môi se giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, của thuế làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

42-Phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, tức là phân nửa mà Môi-se chia ra với phân nửa của quân binh đã đi trận,

43-phân nửa nầy thuộc về hội chúng, số là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con chiên cái,

44-ba mươi sáu ngàn con bò,

45-ba mươi ngàn năm trăm con lừa,

46-Và mười sáu ngàn người. (trinh nữ-TCT)

47-Trong phân nửa nầy thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se cứ mỗi năm chục thì để riêng ra một. Bất luận người hay vật, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền tạm của Đức Giê-hô-va, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.

48-Những quân trưởng, tức là quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân, đến gần Môi-se

49-mà rằng: Những kẻ tôi tớ ông đã dựng sổ chiến sĩ, là người ở dưới quyền chúng tôi, và không thiếu một tên.

50-Mỗi người trong chúng tôi có đem đến đồ bằng vàng mình đã được, hoặc dây chuyền, hoặc vòng, hoặc cà rá, hoặc hoa tai, hoặc kiềng, làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va đặng chuộc tội cho mình trước mặt ngài.

51-Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, bèn nhận vàng, và hết thảy đồ trang sức làm công kỹ.

52-Hết thảy vàng và lễ vật mà những quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân dâng cho Đức Giê-hô-va, cọng là mười sáu ngàn bảy trăm năm mươi siếc-lơ.

53-Vả, mỗi người trong quân binh đều có cướp lấy vật cho mình.

54-Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ,, nhận lãnh vàng của quan tướng ngàn quân và quan tướng trăm quân, rồi đem vào hội mạc làm kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va”.
_______________________________
---- Giê-su thực sự có 4 người em trai và ít nhất là 2 người em gái----

⊙ MARK 6: 3: “Đây có phải là anh thợ mộc (Giê-su), con bà Mary, anh của James, Joses, Judas, và Simon? Các em gái của hắn chẳng phải đang có mặt tại đây sao?” và nhiều đoạn khác trong Tân ước có ghi rõ họ đều là em của Giê-su, và còn ghi rõ James là em ruột Giê-su.. [Xin đọc: (John 2:12); Matthew 12:46-50; Matthew 27: 56; Mark 3:31-35; Luke 8:19-21; Acts 1:13-14; 1 Corinthians 9:5; Acts 12:17; 15:13; Galatians 1:18-19]. Vậy mà các Cha vẫn cứ giảng là Đức Mẹ đồng trinh trọn đời!

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

NHỮNG GÌ CỦA DÊ-XU HÃY TRẢ LẠI CHO DÊ-XU

Tượng Dê-xu không mang khố (ở truồ ng) và bị đóng đinh treo trên thập á c dưới đây là do danh họa Michaelanglo điêu khắc vào năm 1492 vào giai đoạn Phục Hưng. Nó có kích thước 41.3 cm x 39.7 cm
Theo Michaelanglo, tạc tượng Dê-xu ở truồ ng là làm đúng như Kinh Thánh mô tả khi những tên lính La mã đã lộ t truồ ng Dê-xu trước khi đóng đinh. Tất cả các Thánh Kinh Tân ước đều mô tả Dê-xu bị treo trần trụ i trên thập á c. Chính vì vậy, Michaelanglo đã quyết định tạc tượng Dê-xu trần truồ ng trên thập á c để trung thực với nguyên tác.
(Leaving Christ without a cloth to cover him is staying true to the story in the Gospels. It is said that Roman soldiers removed Christ's clothing. All of the Gospel writers record Christ being bare on the crucifix. Michaelangelo's decision may have been a conscious decision to stick with Christ's appearance in order to be faithful to the original stories.).
Thiết tưởng, Nhà Thờ và con chiens nên dùng tượng Dê-xu nguyên bản như thế này để thợ phượng trong nhà thờ và tại gia. Không được xuyên tạc hình ảnh của Dê-xu với cái khố vì sẽ làm giảm đi sự thương khó của ngài trên thập á c, đặc biệt khi ngài quyết định để cho lính La mã lột trầ n truồ ng như vậy.
Nếu thờ Dê-xu ở nhà, con chiens phải để tượng Dê-xu trầ n truồ ng này trên đầu hình ảnh ông bà, tổ tiên để biểu thị sự tôn kính Dê-xu để giữ điều răn số 1 "Kính Chúa hơn hết mọi sự".
Được biết, Michaelanglo sinh ngày 6 tháng 3 năm 1475 và mất ngày 18 tháng 2 năm 1564, thọ 88 tuổi. Ông là người Y nổi tiếng là nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà thơ, họa sỹ có vai trò rất quan trọng trong thời Phục Hưng. Những tác phẩm của ông bị ảnh hưởng rất lớn bởi nghệ thuật phương Tây. Ông là một trong những họa sỹ nổi tiếng nhất vào thời của ông và là một trong những họa sỹ nổi tiếng nhất mọi thời đại. Ông là một tượng đài của thời Phục Hưng và là đối thụ cạnh tranh đáng gờm của Leonardo da Vinci
Crucifix by Michelangelo
MICHELANGELO.NET
Crucifix by Michelangelo
Read about Michelangelo's crucifix sculpture. You can also buy Michelangelo prints from our large gallery.

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

Ngày tận thế và Phán xét cuối cùng sắp đến ?

Cái gọi là ngày tận thế và Phán xét cuối cùng là sản phẩm ngụy tạo của Ki-tô giáo (Ở Việt Nam thường gọi sai là Thiên Chúa giáo) nhằm mục đích hù dọa những kẻ nhẹ dạ cả tin và thiếu tri thức khoa học. Ki-tô giáo đưa ra tin nhảm này để những kẻ thiếu hiểu biết sợ hãi mà theo họ. Năm 2000 họ từng đưa tuyên bố tận thế. Những tín đồ cuồng tín, ngu muội theo tôn giáo này đã đem tài sản, của cảI giao cho những kẻ chủ chăn để được lên thiên đàng. Và kết quả là họ đã bị những đấng chủ chăn lừa gạt một cách trắng trợn - tất cả của cải của họ đã bị các kẻ chủ chăn đại diện cho chúa trên trần gian vơ hốt sạch. Năm 2000 đã đi qua. Đến nay 2011 trái đất này vẫn tồn tạI và loài ngườI trên trái đất đang hiện hữu và có những thành tựu tri thức, khoa học kỹ thuật vượt bậc, mang lạI những tiện ích và lợI lạc rất lớn cho mọI ngườI trên hành tinh. Cho nên, trái đất này sẽ chẳng bao giờ có cái gọI là tận thế. Theo định luật Bảo toàn năng lượng, không có gì tự sinh ra, cũng không có gì tự mất đi, chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, từ trạng thái này sang trạng thái khác mà thôi.

Còn vấn đề chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, động đất, sóng thần . . . có xảy ra hay không, xảy ra nhiều hay ít, là tùy thuộc ở tất cả mọi người trên hành tinh chúng ta sống và hành động như thế nào. Nếu chúng ta sống tốt, sống lành mạnh, biết thương yêu giúp đỡ nhau, biết bảo vệ môi trường sinh thái, chúng tai sẽ hạn chế được chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh. Ngược lạI, chúng ta sẽ phảI gánh lấy hậu quả do chính chúng ta gây ra.

Giả sử, nếu có ngày tận thế và Phán xét cuối cùng, và giả sử chúa là có thật , thì chúa cũng không làm sao đủ khả năng để xét xử. Vì theo Cựu ước và Tân ước, chúa cũng chỉ có hai tay hai chân như con người. Hiện tạI thế giớI có đến hơn 6 tỷ ngườI và loài ngườI đã có mặt trên trái đất này cả hàng trăm tỷ năm, cứ thế mà tính thì số lượng ngườI biết bao nhiêu mà kể. Tìm chỗ đứng cho họ trên cả trái đất còn không đủ, lấy đâu ra chỗ cho họ và chúa ngồI để xét xử? Chưa kể làm gì có đủ thờI gian để chúa xét xử từng ấy người? Thật là vô lý và phản khoa học hết chỗ nói. Tội nghiệp cho những đàn chiên mê muội, có đầu mà không có óc. Càng tội nghiệp hơn nữa là, chúng đã bán thân xác và linh hồn mình cho tên tử tội Do Thái những kẻ đại diện chúa trên trần gian.

Thực ra, chúa là ý niệm ảo giác của những con người kém văn minh và thiếu tri thức khoa học. Khi nào con người có hiểu biết, có tri thức khoa học, có trí tuệ, thì chúa sẽ chết (Theo Nietzsche chúa đã chết rồi!). Cho nên chúa không hiện hữu, chúa không có thật. Chúa chỉ là một ý niệm hư ảo của con người, vì thiếu kiến thức. Một khi chúa đã không có thật thì làm gì có "Thánh kinh" [sic: Phàm kinh] do chúa nói. Một khi không có "Thánh kinh" do chúa nói thì làm gì có cái cái gọi là ngày Tận thế do chúa Phán??? Cho nên ngày Tận thế chỉ là sản phẩm ngụy tạo của những tay đầu sỏ chính trị đội lốt tôn giáo nhằm hù dọa và lừa gạt những người cuồng tín, mê muội mà thôi.

Mong mọi người trong thời đại văn minh này, hãy sống và hành động theo lí trí, lấy khoa học làm thước đo chân lí. Đừng tin vào những học thuyết mê tín vu vơ bá láp, phản khoa học, để rồi tự chuốc lấy sợ hãi, lo âu, bất an, bất hạnh cho chính mình.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Một Bài Đối Thoại Về Phục Sinh Ông Đỗ Mạnh Tri Truyền Đạo Về "Ngôi Mộ Trống"

Phê bình bài của ông Đỗ Mạnh Tri
  Trong Thư Mời Viết Cho Tin Nhà, Tin Nhà đề nghị khi trả lời 5 câu hỏi Tin Nhà đề ra, các tác giả giới hạn trong 2 trang cho mỗi câu hỏi (trang IX).  Có lẽ ông Đỗ Mạnh Tri là người chủ xướng cho nên ông ta không cần phải theo đề nghị của Tin Nhà.  Do đó ông ta đã viết hơn 16 trang để trả lời câu hỏi số 1, từ trang 165 tới trang 181.  Nhưng ông ta viết không phải là để trả lời câu hỏi mà để quảng cáo cho cái đạo Giê-su của ông ta qua những lý luận thần học lắt léo, lạc dẫn, lỗi thời, chứa đầy mâu thuẫn, và không mấy lương thiện.   
Ông Đỗ Mạnh Tri Truyền Đạo Về "Ngôi Mộ Trống"
 Để trả lời câu hỏi đầu tiên, "Theo bạn, đâu là nhược điểm lớn nhất và ưu điểm lớn nhất của Giáo hội công giáo hoàn vũ hiện nay?",  ông Đỗ Mạnh Tri mở đầu bằng câu chuyện giáo hoàng John Paul II đi hành hương Jerusalem, ngồi bên ngôi mồ trống..  Rồi ông Tri bắt đầu truyền đạo Giê-su như sau: 
   "Trống vì Giêsu đã chết.  Trống vì Người đã thắng sự chết.  Theo chân Giêsu vẫn là chết đi và sống lại.   Nếu Giêsu không sống lại thì đức tin Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc.  Nếu sự sống không thắng sự chết, thì đạo Kitô là một sự bịp bợm". 
Một bức ảnh minh họa ngôi mộ trống
Sống lại như thế nào?  Ông giải thích:
   "Trả lời câu hỏi đó  là tất cả đức Tin Cậy Mến của người Kitô hữu.   Cuộc sống khác ấy mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe và tâm trí con người chưa từng mường tượng: vì "Nước ta không ở thế trần".
   Chuyện "ngôi mồ trống" là nhược điểm hay ưu điểm của "giáo hội công giáo hoàn vũ"?  Đều không phải, vì đó chỉ là một huyền thoại để đáp ứng sự ước mong của những dân Do Thái mê tín ngày xưa, cách đây đã 20 thế kỷ, như tôi sẽ chứng minh sau đây. Mừng cho ông Đỗ Mạnh Tri, ông đã một bước nhảy vọt về 20 thế kỷ trước, vì ông đã tin vào điều trong Thánh Kinh: "Phúc cho những kẻ nào không thấy mà tin".  Những người mù hẳn là có phúc nhiều nhất. 
   Nhưng tôi có một thắc mắc: Nếu "Cuộc sống khác ấy mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe và tâm trí con người chưa từng mường tượng" thì  "đức Tin Cậy Mến của người Kitô hữu" đặt vào đâu?  Không có chỗ để đặt, có phải không?  Phải chăng câu trên chỉ là những lời hoa mỹ trống rỗng để lòe bịp những đầu óc vốn không bao giờ dùng đến khả năng suy luận?  Phải chăng mọi đức tin thuộc loại "mù lòa tin bướng tin càn" đều như vậy cả?
   Một thắc mắc thứ hai: nếu ông ham hố một "cuộc sống khác" và cuộc sống đó ở trong một nước "không ở thế trần" thì ông tiếp tục sống ở trên thế trần làm gì?  Tại sao từ giáo hoàng của ông cho tới những tín đồ như ông vẫn tìm cách hoãn càng lâu càng tốt cái "cuộc sống khác không ở thế trần" đó, tận dụng những dịch vụ thế trần như bác sĩ, nhà thương, bảo hiểm sức khoẻ v..v.. và những tiện nghi thế trần như nhà, xe, bơ, sữa, sâm banh, và cái "popemobile"?  Có phải là những lời truyền đạo như trên chỉ là những lời giả dối trên đầu môi chót lưỡi, đầy tính đạo đức giả hay không?  Tại sao ông lại trách cứ mà không cám ơn nhà Nguyễn là đã bách hại tín đồ Ca-tô trong khi nhà Nguyễn chỉ muốn giúp các tín đồ đó mau được hưởng cái "cuộc sống khác không ở thế trần" đó, theo lý luận thần học của chính ông?  Những câu truyền đạo trống rỗng thuộc thời Trung Cổ có tính cách mạ lị đầu óc con người như vậy đâu còn chỗ đứng trong thế giới loài người ngày nay, thế giới của khoa học, của suy lý.
   Thảm họa của thế gian ngày nay là ở trên đời vẫn còn nhiều người như ông Đỗ Mạnh Tri, ngay trong đời sống này, vẫn ngày ngày ăn cơm gạo, bánh mì quốc gia, không dám nhìn thẳng vào những sự thực của cuộc đời là sinh, lão, bệnh, tử, cho nên cứ hi vọng vào một cái bánh vẽ ở trên trời (Từ của Mục sư Ernie Bringas: A Pie-in-the-sky) của dân tộc du mục Do Thái cổ xưa: một cuộc sống khác sau khi chết, một cuộc sống vô nghĩa và chẳng có ích lợi gì cho ai.  Cho nên, càng đọc những nhận định của Mục sư Ernie Bringas và của Linh mục James Kavanaugh trong Chương 2 về thế nào là một tín hữu Ki-Tô, một tín hữu Ca-tô, tôi càng thấy thấm thía, vì chúng thật là chính xác nhưng không khỏi không gây ra niềm thương xót trong đầu.
   Ông Đỗ Mạnh Tri viết rất đúng, vì chỉ có đức Tin Cậy Mến của người Kitô hữu, những người có đầu óc khuyết tật như Mục sư Ernie Bringas đã mô tả ở trên, hay những mẫu người Ca-tô mà Linh mục James Kavanaugh đã đưa ra, mới có thể tin được chuyện "ngôi mộ trống" trong Thánh Kinh.  Tuy nhiên, có một điều chắc là, không phải Kitô hữu nào cũng có đức Tin Cậy Mến như ông Tri.  Chúng ta thấy không thiếu gì Kitô hữu, kể cả người Ca-tô trí thức Việt Nam, đã từ bỏ đức Tin Cậy Mến không có chỗ đặt của thời Trung Cổ.  Tại sao lại từ bỏ?  Vì họ đã đọc kỹ Thánh Kinh và đã theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Có vẻ như ông Tri chưa từng đọc Thánh Kinh, hay có đọc thì cũng chỉ đọc theo lời dạy của giáo hội phải đọc như thế nào.  Vậy đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta biết được những gì về "ngôi mồ trống"  chứng tỏ sự sống lại của Giê-su?
   Trước hết, chúng ta cần biết rõ một sự kiện: Thư đầu của Paul (Phao Lồ) cho dân Corinth (Cổ Linh) được viết sớm nhất, vào khoảng 20 năm sau khi Giê-su chết.  4 Phúc Âm của Mark, Matthew, Luke, và John được viết sau Paul trong khoảng từ 20 đến 50 năm.  Đây là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.
   Trong 1 Corinthians, 15: 3-7, Paul viết:
   "Đấng Kitô chết cho tội lỗi của chúng ta, theo như  Thánh Kinh (Thánh Kinh đây là Cựu Ước vì khi đó Tân Ước chưa được viết ra. TCN); ông ta được chôn đi; rồi ông ta sống lại vào ngày thứ ba, theo như Thánh Kinh; rồi ông ta hiện ra trước Cephas (nghĩa là Peter (Phêrô), và sau đó hiện ra trước 12 tông đồ.  Rồi ông ta hiện ra trước trên 500 người anh em chúng ta một lượt, hầu hết hãy còn đang sống, tuy một số đã chết.  Rồi ông ta hiện ra trước James, và sau đó trước tất cả các tông đồ."
   (Christ died for our sins, in accordance to the Scriptures;  that he was raised to life on the third day, according to the Scriptures; and that he appeared to Cephas, and afterwards to the Twelve.  Then he appeared to over five hundred of our brothers at once, most of whom are still alive, though some have died.  Then he appeared to James, and afterwards to all the apostles.)
   Điều rõ ràng ở đây là Paul đã mượn câu chuyện hoang đường trong Cựu Ước: Jonah nằm trong bụng cá ba ngày ba đêm rồi sống lại, để rao giảng thuyết Giê-su sống lại mà Paul nhắc lại những lời đồn đại đương thời để đáp ứng niềm tin của một số dân Do Thái thời bấy giờ.  Paul chưa bao giờ gặp Giê-su, trước cũng như sau khi Giê-su chết, chỉ "thấy" Giê-su trong một viễn tượng (vision) và rao truyền sự sống lại của Giê-su theo những lời đồn đại của một số người Do Thái trong thời đó. Không có một sự hiện ra nào của Giê-su được mô tả trong 4 Phúc Âm của Matthew, Mark, Luke, và John phù hợp với sự mô tả của Paul.  Mặt khác, Paul không hề nhắc đến câu chuyện "động trời" khi đó về "ngôi mồ trống".
Tuy Paul cố thuyết phục những tín đồ Kitô ở Corinth rằng Giê-su đích thực đã sống lại, ông ta không bao giờ nhắc đến cái bằng chứng có tính cách thuyết phục nhất là ngôi mồ trống.  Tại sao vậy?   Vì một lẽ rất giản dị: chuyện ngôi mồ trống chưa được các tác giả của 4 Phúc Âm phịa ra, phịa ra sau thư của Paul từ 20 đến 50 năm.  Paul viết là Giê-su hiện ra trước Phê-rô (Peter) đầu tiên.  4 Phúc Âm viết Giê-su đầu tiên hiện ra trước từ 1 đến 3 người đàn bà.   Paul viết sau đó Giê-su hiện ra trước 12 tông đồ.  4 Phúc Âm viết Giê-su hiện ra trước 11 tông đồ.  Hiển nhiên Paul không biết đến chuyện "Judas phản Chúa" và Judas đã thắt cổ tự tử chết (Matthew 27: 5), hay ngã sổ ruột ra mà chết (Acts 1: 18).  Chuyện  "Judas phản Chúa" rõ ràng cũng lại là một chuyện khác được phịa ra về sau trong 4 Phúc Âm. Paul viết Giê-su hiện ra trước 500 người, nhưng ngoài Paul ra không có ai trong số hơn 500 ngưởi này kể lại câu chuyện Giê-su hiện ra.  Và còn nhiều mâu thuẫn nữa.
   
Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản năm 2000,  chương II, tôi đã trích dẫn từ Tân Ước chuyện sống lại của Giê-su theo Mark và theo Matthew và vạch rõ là chúng hoàn toàn khác nhau, nhiều khi đối nghịch hẳn nhau với nhiều chi tiết rất mâu thuẫn.  Vậy chúng ta phải kết luận làm sao?  Tin Paul, tin Mark, hay tin Matthew?  Căn cứ vào đâu mà tin ai?  Có lẽ đối với ông Đỗ Mạnh Tri, chỉ cần có Tin Cậy Mến không có chỗ đặt là đủ.  Sự suy luận của trí óc có vẻ thừa. 
   Để cho vấn đề được rõ ràng hơn, có lẽ chúng ta cũng nên biết ngày nay giới trí thức, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Kitô, nghĩ gì về huyền thoại "ngôi mộ trống" và sự sống lại của Giê-su. 
   Trước hết là một người Catô trí thức Việt Nam tỉnh ngộ, ông Charlie Nguyễn, nguyên là một thẩm phán thời VNCH và là một người đạo gốc, với tác phẩm Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác, Giao Điểm xuất bản, 2001.  Trong tác phẩm này, ông Charlie Nguyễn đã để ra nguyên một chương, chương 6, để viết về Huyền Thoại Phục Sinh.  Chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau:
   "..Đặc biệt trong mùa Phục Sinh năm 1996, cả ba tờ tuền báo lớn nhất nước Mỹ là Time, Newsweek và U.S. News and World Report đều đồng loạt ra ngày 8.4.96 với hình bìa in ảnh Chúa sống lại và những bài báo nảy lửa tố cáo chuyện Phục Sinh của Chúa như một chuyện bịp lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
    Hầu hết các sách và các hội nghị khoa học về Chúa Ki Tô đều phủ nhận sự phục sinh của Ngài.  Ngay những nhà truyền giáo Tin Lành cũng phải nhìn nhận sự phục sinh của Chúa đã trở thành một gánh nặng (a burden) cho tín lý đạo Kitô, vì nó đã là một trở ngại lớn nhất cho việc truyền giáo trong giới trí thức hiện nay...
   Vì quá tin vào Lời Chúa trong Phúc Âm của John, hầu hết tín đồ Ki tô giáo thường ít thắc mắc về những điều vô lý trong tín điều Phục Sinh cũng như trong các tín điều khác, bởi vì không thấy mà vẫn cứ tin bừa thì mới có phúc thật.  Câu nói: "Phúc cho kẻ nào không thấy mà tin" đã trở thành nền tảng trong hai ngàn năm qua cho một thứ Đức Tin Mù (The blind faith) - một thứ đức tin của loài người bán khai vì nó hoàn toàn không cần xử dụng tới cái dụng cụ quý giá nhất ở con người thông minh là lý trí.."
    Đức Tin Cậy Mến của ông Tri thuộc loại nào, nay chúng ta đã rõ.   Chúng ta cũng đã biết trong một phần trên: theo Mục sư Ernie Bringas thì ngày nay "Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý  giáo hội đưa ra đều là huyền thoại".  Một trong bảy giáo lý này chính là huyền thoại "ngôi mồ trống" hay huyền thoại "sống lại" của Giê-su.
   Trong cuốn Giê-su Là Ai? (Who is Jesus), khi được hỏi về Ngày Chủ Nhật Phục Sinh (Easter Sunday), linh mục John Dominic Crossan, giáo sư danh dự về môn khảo cứu Thánh Kinh (Professor Emeritus of Biblical Studies) trong 26 năm tại đại học Depaul, Chicago, đã trả lời như sau:
   Khi thảo luận về chuyện Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, tôi đã luận rằng câu chuyện Giê-su được các bạn của ông ta chôn sau khi chết hoàn toàn không đúng với lịch sử.  Nếu ông ta có bị chôn, thì không phải là do bạn của ông chôn mà là do các kẻ thù của ông.  Và không phải ở trong một nấm mồ được đục trong đá, mà là một nấm mồ nông nơi đó thây của Giê-su sẵn sàng làm mồi cho những con thú hoang.  Đó là những kết luận không sáng sủa gì, nhưng tôi không thể không kết luận như vậy.
   Với câu chuyện Phục Sinh, chúng ta có đứng vững trên phiến đá của sự kiện lịch sử không?  Hay, nếu không, làm sao chúng ta giải thích được sự sống sót của niềm tin vào Giê-su?  Và nếu chúng ta quyết định là chúng ta không thể đọc những chuyện về Phục Sinh theo như được viết trong Thánh kinh thì chúng ta phải đọc chúng như thế nào?  Tôi nêu lên những câu hỏi này không chỉ vì, đối với một số người trong thế kỷ 20, khái niệm về một sự sống lại không đáng tin.  Tôi nêu lên những câu hỏi này vì những điều viết trong Tân Ước bắt buộc tôi phải nêu chúng lên. Matthew, Mark, Luke, và John kể câu chuyện về Phục sinh thật là khác nhau - đúng vậy, quá khác nhau, cho nên chúng ta không thể hòa hợp chúng với nhau.  Do đó chúng ta phải đặt vấn đề về ý định và ý nghĩa của chuyện Phục sinh.
   Nói ngắn gọn, đây là những kết luận của tôi: Thứ nhất, chuyện Phục Sinh không phải là về những biến cố xảy ra trong một ngày, mà là phản ánh sự tranh đấu trong nhiều năm tháng của những người tin theo Giê-su để giải thích ý nghĩa của cái chết của Giê-su cùng ảnh hưởng của Giê-su vẫn tiếp tục ngự trị trong họ.  Thứ nhì, những chuyện về sự xuất hiện của một Giê-su sống lại trước nhiều người khác nhau không phải là những "cái thấy thực sự" mà chỉ thuộc loại "văn chương giả tưởng" bắt nguồn từ sự tranh đấu của các tông đồ với mục đích giành giật vai trò lãnh đạo của giáo hội sơ khai.  Thứ ba, sự sống lại chỉ là một - và chỉ là một - trong những ẩn dụ để biểu thị ý nghĩa Giê-su vẫn tiếp tục hiện diện trong đám tín đồ và bạn hữu của ông ta.
   Câu chuyện về "ngôi mộ trống" có phải là một sự kiện lịch sử không?  Không đâu.  Tôi đã từng giải thích tại sao tôi không tin rằng có một ngôi mộ của Giê-su.   Tôi không tin rằng bất cứ ai trong đám người theo ông biết ông chôn ở đâu - nếu thực sự ông ta được chôn cất.  Và những người viết Phúc Âm lại không thỏa thuận với nhau về những điều họ kể lại.  Do đó tôi tin tưởng rằng chuyện sống lại được viết ra theo những động cơ riêng tư chứ không phải là đúng với lịch sử.
   Ngoài ra, Paul là người viết sớm nhất về chuyện sống lại - những bức thư của Paul được viết ra trước những Phúc Âm lâu - và không có chỗ nào chúng ta thấy là ông ta đã biết về chuyện ngôi mộ trống.  Điều này thật là khó hiểu, nếu chuyện ngôi mộ trống là sự kiện lịch sử nền tảng của chuyện phục sinh.
(In discussing the cruxifixion, I argued that the story of Jesus' burial by his friends was totally unhistorical.  If he was buried at all, he was buried not by his friends but by his enemies.  And not in a tinb hewed out of stone, but in a shallow grave that would have made his body easy prey for scavenging animals.  Those are grim conclusions, but I cannot escape them.
   With the Easter stories, are we standing on the solid rock of historical fact?  Or, if not, haw are we account for the survival of faith in Jesus?   And if we decide that we cannot read the Easter narratives literally, then how are we to read them?  I raise these questions not just because for some twentieth-century people the notion of resurrection from the dead seems incredible on the face of it.  I raise these questions also because the New Testament record forces me to raise them.  Matthew, Mark, Luke, and John tell the Easter story quite differently - so differently, in fact, that we simply cannot harmonize their versions.  So we have to ask questions of intention and meaning.
   In a nutshell, these are my conclusions:  First, the Easter story is not about the events of a single day, but reflects the struggle of Jesus' followers over a period of months and years to make sense of both his death and their continuing experience of empowerment by him.  Second, stories of the resurrected Jesus appearing to various people are not really about "visions" at all, but are literary fiction prompted by struggles over leadership in the early Church.  Third, resurrection is one - but only one - of the metaphors used to express the sense of Jesus' continuing presence with his followers and friends...
   Is the story of the empty tomb historical?  No.  I've already explained why I doubt there was any tomb for Jesus in the first place.  I don't think any of Jesus' followers even knew where he was buried - if he was buried at all.  And the gospel writers don't come close to agreeing with each other on what they report.  So my conviction is that motives other than just history writing are clearly at work here.
   By the way, Paul is the earliest writer we have on resurrection - his letters are much earlier then the gospels - and he nowhere shows awareness of having heard an empty tomb story.   That's hard to understand, if an empty tomb was supposed to be the bedrock historical fact of Easter.)
  
 Trong cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things), Uta  Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị Giáo sư về nền Thần học Ca-tô (The first woman in the world to hold a chair in Catholic theology), đã viết về chuyện Phục sinh của Giê-su như sau, trang 131:
   "Chuyện ngôi mộ trống vào ngày chủ nhật phục sinh là một truyền thuyết.  Điều này được lộ rõ trong sự kiện là Paul, người rao giảng quan trọng nhất về sự sống lại của Giê-su, ngoài ra cũng là người viết trong Tân Ước sớm nhất, không nói gì về ngôi mộ trống.  Đối với Paul, chuyện này không hề xảy ra.  Điều này chẳng có ý nghĩa gì đối với Paul, nghĩa là, một ngôi mộ trống chẳng có ý nghĩa gì đáng kể đến cái chân lý sống lại mà ông ta tuyên bố  một cách quyết định.   Cứ cho là như vậy, đối với Paul tất cả Ki Tô Giáo tùy thuộc sự sống lại của ông Ki-tô - "Nếu ông Ki-tô không sống lại thì sự giảng đạo của chúng ta là vô ích và đức tin của các ngươi cũng vô ích" (1 Cor. 15:14).  Nhưng theo quan điểm của Paul, điều này chẳng ăn nhằm gì tới ngôi mộ trống.  Rõ ràng là ông ta không có một ý kiến nào về một ngôi mộ trống như vậy.   Nếu Paul đã từng nghe chuyện ngôi mộ trống, không bao giờ ông ta lại không nhắc đến.  Vì ông ta nhặt chung lại với nhau và nói về mọi bằng chứng về sự sống lại của Giê-su mà ông ta biết (1 Cor. 15), chắc chắn là ông ta thấy chuyện ngôi mộ trống đáng được nhắc tới.  Vì ông ta không hề nhắc tới chuyện ngôi mộ trống, điều này chứng tỏ là chẳng làm gì có ngôi mộ trống và do đó chuyện này về sau mới được đặt ra.
   Đây là quan điểm của nhà thần học Ca-tô nổi danh nhất của thế kỷ này, linh mục dòng tên Karl Rahner: " Chuyện "ngôi mộ trống" nên được xét như một biểu thị của một niềm tin vững chắc đã từng được truyền bá trong dân gian vì các lý do khác".  Niềm tin vào sự sống lại đã có trước niềm tin về ngôi mộ trống lâu rồi.  Đức tin vào sự  Phục sinh không phải là hệ luận của ngôi mộ trống mà cái truyền thuyết về ngôi mộ trống được đặt ra từ niềm tin vào sự Phục sinh.  Nó chỉ là một sự thêu dệt sùng tín về một biến cố mà người ta muốn tưởng tượng theo một nghĩa cụ thể...
   Những người Ki Tô đã hiểu lầm sự sống lại của Giê-su ngay từ lúc đầu.  Đánh đồng ngôi mộ trống với sự sống lại của Giê-su, họ đã lẫn lộn cái này với cái kia.  Họ nhìn vào ngôi mộ trống như là hậu quả của sự sống lại, và họ cho đó là bằng chứng của sự sống lại.  Nhưng một ngôi mộ trống có thể trống vì nhiều lý do khác nhau, và nó không bao giờ có thể chứng minh là một sự sống lại nào đã xẩy ra.  Ngược lại, một người chết chắc chắn là nằm trong mồ: sự kiện này không cản trở niềm tin về sự sống lại của hắn, vì sự sống lại khác với chuyện một người chết trở lại đời."
 (The empty tomb on Easter Sunday morning is a legend.  This is shown by the simple fact that the apostle Paul, the most crucial preacher of Christ's resurrection, and the earliest New Testament writer besides, says nothing about it.  As far as Paul is concerned, it doesn't exist.  Thus it also means nothing to him, that is, an empty tomb has no significance for the truth of the resurrection, which he so emphatically proclaims.   Granted, for Paul all of Christianity depends upon the resurrection of Christ - "If Christ has not been raised, then our preaching is in vain and your faith is in vain" (1 Cor. 15:14).  But in Paul's view, that has nothing to do with an empty tomb.   He manifestly has no idea of any such thing.   If Paul had ever heard of the empty tomb, he would never have passed over in silence.  Since he gathers together and cites all the evidence for Jesus' resurrection that has been handed down to him (1 Corinthians 15), he certainly would have found the empty tomb worth mentioning.  That he doesn't proves that it never existed and hence the accounts of it must not arisen until later.
   This is the position taken by the most important Catholic theologian of this century, the Jesuit Karl Rahner: "The "empty tomb" is rather to be judged an expression of a conviction that had already become wide-spread for other reasons" (Schriften zur Theologie [1975], XII, 348).  The belief in the resurrection is older than the belief in the empty tomb.  The faith of Easter was not the result of the empty tomb; rather, the legend of the empty tomb grew out of the faith of Easter.  It is a pious embroidery on an event that people wanted to imagine in a concrete sense...
   The Christians have misunderstood the resurrection of Christ pretty much from the beginning.   Equating the empty tomb with his resurrection, they mistook the one for the other.  They looked on the empty tomb as a sort of consequence of the resurrection, and then they classified it as a proof of the resurrection.  But an empty tomb can be empty for the most varied reasons, and it never proves that any resurrection occured.  Conversely, a dead man may certainly lie in a tomb: Such a fact is no obstacle to faith in his resurrection, because resurrection is something different from a dead man's coming back to life.)
   Và cuối cùng, sử gia Will Durant viết trong cuốn Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith, p. 735): Ngay từ đầu thế kỷ 13, người ta đã cho rằng:
   "Sự Biến Chất (bánh và rượu biến thành thịt và máu thực của Giê-su. TCN), Giê-su là hiện thân của Thượng đế, Sinh ra từ một Nữ Đồng Trinh, và Sự Sống Lại - tất cả chỉ là toan tính  của một số người xảo quyệt khi xưa để giữ con người trong vòng sợ hãi và kiềm chế, và ngày nay được tiếp tục nuôi dưỡng bởi những tên đạo đức giả."
    (Giraldus Cambrensis: Transubstantiation, the Incarnation, the Virgin Birth, and Resurrection - all this had been intented by cunning ancients to hold men in terror and restraint, and was now carried on by hypocrites.)
   Từ những tài liệu trên, chúng ta thấy rằng, chuyện ngôi mồ trống và do đó, chuyện Giê-su sống lại,  chỉ là chuyện tưởng tượng của một số người theo Giê-su khi xưa, hoặc để tự an ủi khi Giê-su chết, vì sự thất vọng không thấy được nước Trời như Giê-su đã hứa hẹn cho họ được viết rõ trong Tân Ước, hoặc để giải thích niềm tin của mình về cái chết của Giê-su, người mà họ tin là không thể nào chết vì là Con Thiên Chúa theo như lời tự nhận của Giê-su,  hoặc sau này để giữ tín đồ trong vòng mê tín v..v.. chứ không phải là những sự kiện lịch sử.  Tính cách hoang đường của chuyện "ngôi mộ trống" thật là rõ rệt khi chúng ta đọc Tân Ước về vài hoạt cảnh liên quan đến cái chết và sống lại của Giê-su.  Trong Phúc Âm Matthew 27: 45-53 chúng ta có thể đọc:
   "Từ giờ thứ 6 đến giờ thứ 9 (nghĩa là từ trưa đến 3 giờ chiều. TCN), khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt.   Ước chừng giờ thứ 9, Giê-su kêu lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni?, nghĩa là: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao ngài lìa bỏ tôi?..Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn nữa rồi trút linh hồn..(Điều này chứng tỏ trước khi chết Giê-su đã thốt lên một nỗi thất vọng lớn lao về điều hoang tưởng của Giê-su, tin mình là con Thiên Chúa. TCN)
   Và này, cái màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới.   Đất thì rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả mở ra, và nhiều thây các Thánh đã qua đời được sống lại.  Sau khi Giê-su sống lại, các Thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào Thánh địa (Jerusalem) và hiện ra cho nhiều người thấy."
   Nếu ông Tri tin vào chuyện sống lại thì tôi xin hỏi ông một câu:  Từ chiều thứ sáu, khi Giê-su bị đóng đinh, cho tới sáng chủ nhật, khi Giê-su sống lại, thì các Thánh đã qua đời được sống lại, do mồ mả của họ mở ra, nằm yên dưới mồ mả để làm gì?  Để chờ Giê-su sống lại?  Nghĩa là các Thánh này biết là Giê-su sẽ sống lại?   Sau khi Giê-su sống lại thì các Thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào Jerusalem, và hiện ra cho nhiều người thấy.  Vậy bây giờ các Thánh đó ở đâu? 
   Chuyện trong Thánh Kinh đều như vậy cả, ai muốn tin thì cứ việc tin.    Riêng tôi, tôi liệt những chuyện trên vào loại hoang đường, tầm bậy.
   Mặt khác, chuyện phịa "ngôi mộ trống" còn đưa đến chuyện phịa "thăng thiên": Giê-su bay lên trời trước 11 tông đồ và ngồi bên phải Chúa Cha.  Ai nhìn thấy Chúa Cha ở trên trời là chỗ nào, chắc chắn là phải ở gần mặt đất thì các tông đồ mới có thể thấy là Giê-su lên "ngồi bên phải" Chúa Cha.  Nhãn lực của con người tới bao xa?  Nhưng sao lại chỉ có 11 tông đồ "thấy"?   Một cái pháo bông nổ trên trời có bao nhiêu người thấy?  Một chiếc máy bay bay trên trời có bao nhiêu người thấy?  11?   Ngay từ cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã đặt vài câu hỏi:
   Người ta tuyên bố rằng Giê-su sống lại và thân thể bay lên trời.
   Phải mất rất nhiều năm những điều vô nghĩa này mới cấy được vào đầu óc con người.  
 Nếu thực sự ông ta thăng thiên, tại sao ông ta không làm việc này trước công chúng, trước những người đã bạo hành  ông?  Tại sao cái phép lạ vĩ đại nhất trong các phép lạ này lại phải thực hiện trong bí mật, trong một xó xỉnh?...
  (The claim was made that Christ rose from the dead and ascended bodily to heaven.   It required many years for these absurdities to take possession of the minds of men.   If he really ascended, why did he not do so in public, in the presence of his persecutors?     Why should this, the greatest of miracles, be done in secret, in a corner?)
Những chuyện phịa như vậy mà ngày nay vẫn còn có người tin thì thật là lạ.  Nhưng lạ hơn cả là một trí thức Ca-tô cỡ Đỗ Mạnh Tri mà trong thời đại này vẫn còn hi vọng truyền đạo Giê-su dựa vào truyền thuyết "Ngôi mộ trống", một chuyện phịa mà hầu hết các học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội đều đã bác bỏ. 
   Một câu hỏi được đặt ra: John Paul II tới ngồi bên ngôi mồ trống để làm gì?  Những người như Đỗ Mạnh Tri không biết đến sự thật về chuyện ngôi mồ trống hay sống lại của Giê-su thì đã đành, chẳng lẽ giáo hoàng mà cũng không biết đến sự thật về ngôi mồ trống hay sao?  Chẳng có gì là khó hiểu nếu chúng ta biết rằng bản chất của John Paul II là một kịch sĩ và biết rằng sách lược muôn đời của giáo hội công giáo đối với đám tín đồ vẫn là "ngu dân dễ trị".  Tất cả những hành động của John Paul II chỉ là đóng một vở kịch đạo đức giả để lừa bịp thế giới qua những bộ mặt "cáo thú tội lỗi trước thế giới", "hòa hợp tôn giáo" v..v.. ve vuốt bề ngoài với mục đích củng cố giáo hội và nuôi dưỡng sự mê tín trong đám tín đồ thấp kém ở dưới.  Nhưng bộ mặt đạo đức giả này chỉ có thể dấu được đám tín đồ thấp kém chứ không thể dấu được giới truyền thông Âu Mỹ, và người ta đã vạch ra những chuyện ông ta "nói một đàng, làm một nẻo". 
   Ông ta đến Jerusalem để làm gì? Để đưa ra một lời xin lỗi về những sai lầm mà giáo hội đã phạm qua nhiều thế kỷ đối với dân Do Thái (Chicago Tribune, July 21, 2002: to offer an apology for the wrongs the church had committed against Jews over the centuries).  Nhưng chỉ vài tháng sau, ông ta lại phong thánh cho một giáo hoàng tiền nhiệm, Pius IX, một giáo hoàng trong thế kỷ 19 đã gọi người Do Thái là "những con chó hoang" và bất kể đến sự bất bình giận dữ của thế giới, đã bắt cóc và giữ một đứa trẻ Do Thái đã bị "rửa tội" một cách kín đáo bởi một nữ nhân hầu cận của giáo hoàng. (A few months later, however, he beatified one of his predecessors, Pius IX, a 19th century pope who referred to Jews as "prowling dogs" and defied international outrage by kidnapping and keeping a Jewish child who had been secretly baptized by his nursemaid.)  Điều này làm cho rất nhiều người Do Thái nghĩ rằng chuyện ông ta đến Jerusalem chỉ là một màn kịch (That made a lot of Jews think that what happened in Jerusalem was show biz..).  Ông ta hô hào hòa hợp tôn giáo nhưng vẫn đồng ý với hồng y Ratzinger cho ra tài liệu Dominus Jesus mà nội dung loại trừ mọi hòa hợp tôn giáo.
   Ông ta đến ngồi bên ngôi mồ trống để làm gì?  Vì ông ta tin là Giê-su đã sống lại chăng?  Không đâu.  Cũng như sau khi được một toán bác sĩ  tận lực cứu ông thoát chết trong vụ ám sát năm nào, ông ta tuyên bố Đức Mẹ đã cứu ông ta, nhưng từ đó trở đi ông ta không còn tin vào Đức Mẹ nữa, vì đi tới đâu ông cũng nhảy vào trong cái popemobile hở mui được chế tạo riêng cho ông trên đó có một cái (chuồng, lồng, hộp, thùng?) kính chắn đạn để ông tiếp tục tin vào quyền năng của Đức Mẹ và dạy bảo tín đồ "Đừng sợ". Một con người như vậy, bất kể giữ địa vị nào, thì đáng khinh hay đáng trọng? Vậy ông tới ngồi bên ngôi mồ trống chẳng qua chỉ để nuôi dưỡng niềm tin trong đám tín đồ thấp kém là Giê-su thực sự đã sống lại và nuôi dưỡng niềm tin về sự "cứu rỗi" của Giê-su.  Và ông ta đã mê hoặc được những tín đồ như Đỗ Mạnh Tri.  Hành động này cũng chẳng khác chi hành động phong thánh cho một số Việt gian, Hán gian v.. v.. để nuôi dưỡng sự cuồng tín và tuân phục giáo hoàng của những tín đồ Catô bản xứ.  Hành động này cũng chỉ có cùng mục đích như những hành động đi tới các quốc gia trong thế giới thứ ba để xin lỗi trên đầu môi chót lưỡi về những thảm họa mà giáo hội Catô Rôma đã giáng trên những đất nước này mà không hề có một biện pháp đền bù nào về những tác hại mà Catô giáo đã mang đến cho họ.   Chẳng vậy mà Giáo sư Arthur Noble đã viết trên Internet ngày 17 tháng 3, 2000 một bài với đầu đề "Sự Xin Lỗi Của Giáo Hoàng: Chuyện Đại Khôi Hài Đầu Tiên Của Thiên Niên Kỷ Mới" (The Pope's Apology: The First Great Laugh of the New Millennium) trong đó có một đoạn như sau:
   "Nhân loại phải biết rằng mình đang bị lừa dối bởi những giọt nước mắt cá sấu của Giáo hội Rô-ma trong cái điều ra vẻ hối hận quá khứ với những lời ăn năn xin lỗi: chúng được tính toán một cách dối trá cho một mục đích rõ ràng, giống như những phép lạ giả tạo bởi giáo hội, để lùa những người nhẹ dạ vào trong đoàn chiên của giáo hội"
   (Mankind must be aware of being fooled by the crocodile tears of the Roman Church's seemingly regretful reminiscences and contrite apologies: they are contrived for a specific purpose, like her faked miracles - to lure the unsuspecting into her fold)
   Vì tin rằng chuyện ngôi mồ trống cũng như chuyện sống lại của Giê-su là những sự kiện lịch sử (historical facts) nên ông Đỗ Mạnh Tri đã quảng cáo cái hành động ngồi bên ngôi mồ trống của "đức thánh cha" của ông, và đưa ra 2 nhận định:
   "Nếu Giêsu không sống lại thì đức tin Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc.  Nếu sự sống không thắng sự chết, thì đạo Kitô là một sự bịp bợm".
   Hi vọng những tài liệu nghiên cứu về chuyện Giê-su sống lại của Charlie Nguyễn, linh mục John Dominic Crossan, giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann, và sử gia Will Durand có thể làm sáng tỏ câu thứ nhất: "Nếu Giêsu không sống lại thì đức tin Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc."  Vậy đức tin Ki Tô giáo có hoàn toàn huyễn hoặc hay không, xin để cho quý độc giả tự mình nhận định, biết rằng chuyện Giê-su sống lại chỉ là chuyện tưởng tượng của một số người Do Thái cách đây gần 2000 năm chứ không phải là một sự thực lịch sử.
   Còn câu thứ hai của ông Đỗ Mạnh Tri: "Nếu sự sống không thắng sự chết, thì đạo Kitô là một sự bịp bợm". thì thật đã khẳng định đạo KiTô chính là một sự bịp bợm.  Thật vậy, vì sống và chết là hai mặt của cuộc đời.  Nếu sống thì không chết, mà đã chết rồi thì hết sống, cho nên nói rằng sự sống thắng sự chết thì đồng nghĩa với sự chết thắng sự sống.  Có lẽ ông Đỗ Mạnh Tri muốn nói rằng sự "sống lại" đã thắng sự chết, nhưng sự sống lại của một thân xác đã chết và táng xác là một chuyện không tưởng, còn nếu hiểu sự "sống lại" theo một nghĩa khác thì, theo thuyết luân hồi của nhà Phật  đã có từ trước khi Giê-su ra đời hơn 500 năm, ai mà chẳng sống lại, ai mà chẳng thắng sự chết, trừ những bậc tu hành đến trình độ đã thắng được cả sống lẫn chết, đâu chỉ có mình Giê-su mới sống lại?
   Với những hiểu biết hiện đại về "ngôi mồ trống" như tôi vừa đưa ra ở trên, chuyện "ngôi mồ trống" phải chăng chính là ưu điểm của giáo hội Catô Rôma đối với những tín đồ như Đỗ Mạnh Tri, nhưng đồng thời cũng là nhược điểm của giáo hội Catô đối với giới hiểu biết?

Trần Chung Ngọc