Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Hội Tam Điểm là gì

Nếu từng đọc “Biểu tượng Thất truyền” của Dan Brown, chắc hẳn ai cũng biết con số 13 và con mắt Thông huyền là những thứ tượng trưng cho hội kín hội Tam điểm với những câu chuyện kỳ bí mới được khám phá.

1. Lịch sử hội Tam Điểm

Hội Tam Điểm (Freemasonry) là một tổ chức huynh đệ có nguồn gốc huyền bí từ thời Trung Cổ và chính thức ra đời ở thị trấn nhỏ Warrington, Anh năm 1646. Hội này kết nạp các hội viên thông thái và bác ái để huấn luyện nhau bằng biểu tượng và các nghi lễ một cách bí truyền, phi giáo điều nhằm tiến tới sự hoàn thiện của nhân loại.

Trong những ngày đầu thành lập, hội Tam Điểm thường tham gia vào các hoạt động từ thiện, phát triển tình huynh đệ và tôn trọng những giá trị đạo đức, mong muốn chia sẻ công việc và đóng góp lợi ích cho xã hội. Đến nay, thành viên của hội trên toàn thế giới vào khoảng 5 triệu người.

2. Biểu tượng hội


Nhìn vào biểu tượng của Hội Tam Điểm ta dễ dàng liên tưởng ngay đến môn hình học bởi chính chiếc com-pa, hình vuông và kim tự tháp là những “dụng cụ” thể hiện sức mạnh thần bí lại tạo nên nét đặc trưng của hội. Pitago (570 trước CN – 495 trước CN), người tiên phong trong “nền tảng của tất cả các loại hình kiến trúc và toán học” là một thành viên danh dự của hội vì nhờ ông, hội mới có biểu tượng đặc biệt như thế

3. Chủ nghĩa vô thần


Hội Tam Điểm không theo chủ nghĩa vô thần. Có nhiều người cho rằng thành viên hội này liên minh chặt chẽ với quỷ Sa-tăng hay đơn giản là vươn đến một thế giới Vô thần hòng kiểm soát tất cả các cấu trúc kinh tế, chính trị. Tuy nhiên luận điệu này bị bác bỏ hoàn toàn, bởi hội Tam Điểm có một đức tin mãnh liệt vào Thiên Chúa cũng như sứ mệnh vinh quang phải thực hiện trước Người.

4. Hội kín Tam Điểm có phải là Hội kín Illuminati hay không?


Khi nhắc tới hội Tam Điểm, người ta thường đề cập tới hội Illuminati (Khai sáng) bởi mối liên hệ mật thiết giữa hai hội này. Illuminati là tên của một tổ chức liên hiệp bí mật có thật trong lịch sử do Triết gia người Đức Adam Weishaupt (1748 – 1830) thành lập năm 1776 tại Bavaria, Đức trong thời kỳ Khai sáng ở châu Âu với mục tiêu tạo nên một chính phủ đơn nhất để cai trị thế giới. Illuminati sau này đã giải thể song các học thuyết âm mưu hiện đại khẳng định rằng nhóm này vẫn tồn tại và hoạt động trong bóng tối, chỉ đạo thế giới công nghiệp và chính trị.

Nhiều người lầm tưởng rằng hội Tam Điểm chính là hội illuminati, nhưng sự thật không phải vậy. Đây là 2 hội kín hoàn toàn riêng biệt, có chăng là có mối liên hệ hoạt động song song giữa 2 hội mà thôi

5. “Mật mã” của hội

Với mục đích tăng cường bí mật của Hội, các hội viên Tam Điểm đã “sáng tạo” nên cách chào riêng của mình theo từng “cấp độ”của hội viên. Nếu là người mới gia nhập vào hội, cách chào hỏi, bắt tay của họ được thực hiện bằng cách nhấn ngón tay cái trên đốt ngón trỏ của hội viên khác. Hội viên “cấp 2” sẽ thực hiện cách chào hỏi bí mật bằng cách, ban đầu họ bắt tay bình thường sau đó nhấn ngón tay cái vào khớp của ngón trỏ và ngón của hội viên khác. Còn đối với hội viên cấp cao, họ thể hiện cách chào hỏi một cách hoàn toàn khác biệt, trong khi ngón cái nhấn lên khớp các ngón tay trỏ, giữa, thậm chí là ngón áp út của người đối diện, thì 4 ngón tay còn lại của họ sẽ tách ra làm đôi làm sao để “ôm” lấy bàn tay ở cả ngón cái và ngón út của hội viên khác.

6. Thành viên Hội Tam Điểm


Các ứng viên muốn gia nhập hội phải trải qua quá trình “sát hạch” nghiêm ngặt với một cuộc điều tra về lý lịch, học thức, môi trường sống… và trả lời mọi câu hỏi mà hội viên khác đưa ra trong khi bị bịt mắt. Khi đủ điều kiện trở thành hội viên, ứng viên phải bảo toàn tín mật của hội và không được khai tên thành viên khác khi bị bắt. Bộ phận điều hành của hội được gọi là Chi hội lớn. Trên thế giới, có nhiều chi hội song không có một cơ quan điều hành đơn nhất, một chi hội có thể chỉ có một người.

Trong giới chính trị, danh sách hội viên Tam Điểm rất ấn tượng. Đó là các vị Tổng thống nước Mỹ như George Washington, Benjamin Franklin, Andrew Jackson, Theodore Roosevelt, hay các nhà khoa học nổi tiếng như Charles Darwin, Isaac Newton; nhà văn như Mark Twain hay tiểu thuyết gia trinh thám Sir Arthur Conan Doyle, danh họa vĩ đại Leonardo da Vinci, nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo Mozart… Rõ ràng, chỉ cần nhìn những cái tên kia thôi, chúng ta cũng đủ hiểu sức hút thần bí cùng sức mạnh không thể chối bỏ của một hội kín đang còn tồn tại cho đến ngày nay.

7. Phân biệt chủng tộc và hôn nhân đồng tính

Hội Tam Điểm là nơi dành cho những vấn đề nổi cộm trong xã hội như phân biệt chủng tộc hay hôn nhân đồng tính. Hội này chấp nhận những gì là tự nhiên nhất của con người, vì thế họ không cấm hôn nhân đồng tính, không phân biệt người da đen, da trắng, người da đỏ hay châu Phi. Thành viên của hội được đối xử như anh em trong gia đình, đã có nhiều cái tên nổi tiếng trong hội bị “gay”là Oscar Wilde, Cecil Rhodes và J. Edgar, thế nhưng, việc chấp nhận thành viên đồng tính lại chính là cách mà Hội thể hiện tình huynh đệ chân chính trong xã hội.

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Vẫn Là Chuyện Tôn Giáo Ở Việt Nam

I. “Con đường truyền thông” (Information Road) ngày nay:
Người ta cho rằng “Con đường truyền thông” đã thay đổi sâu xa đời sống nhân lọai tựa như “Con đường tơ lụa” ở thuở giao thương ban đầu của các nền văn minh cỗ Á Âu. Thời buổi điện tử tin tức tòan cầu thóang qua trên mạng như nước lũ, khó để lại một dấu ấn lâu dài trên ký ức của kẻ quan tâm. Hình như nó cũng nằm trong cả một thiết kế phức tạp của bộ máy tuyên truyền tẩy não của các thế lực siêu cường; bởi nó đã làm cho con người chóng quên các tội ác mà các thế lực này gây ra cho nhân lọai vì tâm trí không đủ thì giờ để lưu giử và phân bịệt thiện ác; và làm cho tình cảm con người bị thui chột trước những cảnh sát hại hàng lọat do các vũ khí tối tân mà các thế lực này không ngừng sản xuất.

II. Chuỵện cải tạo xã hội:
Xuyên suốt lịch sử nhân lọai, đời sống xã hội chỉ được thay đổi triệt để bởi những thế lực phi thường thâu tóm thiên hạ trong một thời gian đủ dài để cãi tạo giềng mối. Các nền triết học và tôn giáo sở dĩ tồn tại và bành trướng được mà để lại được dấu ấn trên đời sống nhân lọai thường phải dựa vào các thế lực chính trị hay bị các thế lực này sử dụng cho mưu đồ sự nghiệp của mình. Phật giáo nhờ vào đại đế Asoka, Harshavardhana, Kanishka vv… ở Ấn độ; các triều Đường, Tống, Minh, Thanh ở Trung Quốc; các triều Asuka, Nara, Heian, hoặc Edo ở Nhật Bản; các triều Lý, Trần ở Việt Nam; Ấn giáo nhờ vào các triều Gupta; Ca-tô nhờ vào các hòang đế La Mã sau thời Constantine I, hay các vương triiều châu Âu; Hồi giáo nhờ vào Salāh-ed-Dīn Ayyūbi (hay còn gọi là Saladin) và các triều đại của đế quốc Hồi Ottoman; và Tin Lành ngày nay đang dựa vào thế siêu cường của Hoa Kỳ vv… Vậy muốn kinh bang tế thế, thay đổi được thiên hạ, chỉ có con đường nắm giữ quyền lực chính trị cho lâu dài bằng mọi cách. Chỉ có chính trị mới có khả năng làm biến đổi xã hội một cách sâu xa.
Dù vậy nếu xã hội có cùng chung một tín ngưỡng, tôn giáo, vẫn còn là một sợi dây đan bện tạo cho xã hội được thuần nhất đòan kết, mang ổn định cho đời sống. Nó còn hòa hợp với phong tục tập quán của dân bản địa để trở thành bản sắc văn hóa cho từng vùng miền, giúp các nước nhược tiểu có khả năng đề kháng các cuộc xâm lăng vũ lực hoặc tôn giáo của các đế quốc. Do vậy mà các thế lực này trong bước đường xâm lược luôn thi hành thủ đọan “cải đạo”, muốn áp đặt tôn giáo của nước mình lên các nước khác bằng mọi cách. Vì thế,  yếu tố tôn giáo đã trở thành một chiêu bài xâm lược trong thế cờ chính trị không thể thiếu. Nó trở thành lọai vũ khí mềm, nguy hại và hiệu quả dùng để gây chia rẽ và làm suy yếu tiềm năng đòan kết của các nước nhỏ, và làm cho nó không giữ vững được nền độc lập của mình.

III. Tự do tôn giáo:
Trong các thời cực thịnh của Ki-tô giáo ở châu Âu,  mấy ai giám mở miệng kêu gào tự do tôn giáo. Biết bao tín ngưỡng khác của nhân lọai đã bị diệt vong, bao xương máu đã đổ dưới “lưỡi gươm và thánh giá”? Cùng thời ở Á Đông, trong lịch sử và văn học chẳng hề nghe ai kêu ca việc “tự do tôn giáo”. Chỉ đến khi các đế quốc thực dân xâm lược Tây Phương cấu kết với Vatican đi “mở rộng nước Chúa” bằng súng đạn và ép buộc cải đạo dân các thuộc địa, chuyện “tự do tôn giáo” mới thành cớ sự.
Vậy tự do tôn giáo là gì? Tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng thường vốn nằm trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, được coi là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng mình thấy thích hợp mà không hề bị đe dọa, cưỡng bức, ép buộc hay dụ dỗ. Khái niệm này thường được thừa nhận là có bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào.
Nhưng đồng thời Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nói rằng: "Quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác."("Freedom to manifest one's religion or beliefs may be subject only to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety, order, health, or morals or the fundamental rights and freedoms of others”.)
Lịch sử đã cho thấy trên bước đường xâm lược bành trướng, bọn thực dân tây phương và Vatican từ những nơi chốn xa xôi quyết áp đặt một lọai tín ngưỡng xa lạ lên dân chúng ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam, với luận điệu đòi “tự do tín ngưỡng”. Rồi với kỷ thuật vũ khí tân tiến chúng đã đi từng bước cai trị được đất nước người, gài cấy một số cộng đồng cải đạo để làm tay sai và gây sự rạn nứt trong  đại khối dân tộc. Đến khi nắm được chính quyền thì chúng liền tiêu hủy mọi nền văn hóa và tín ngưỡng bản địa để chỉ cho Ki-tô giáo được độc tôn. Bài học của Việt Nam còn chưa ráo mực là khi chế độ Ca-tô Diệm được các thế lực thực dân dựng lên, lại luôn lớn giọng là mình đã giành được độc lập từ tay thực dân Pháp, nhưng dưới chỉ đạo của Vatican vẫn tiếp tục duy trì đạo dụ số 10 kỳ thị tôn giáo, chỉ xem Giáo hội Ca-tô Rô-ma mới đúng là tôn giáo duy nhất, còn xếp Giáo hội Phật giáo của tín ngưỡng đại đa số dân tộc vào một lọai hội đoàn tựa như hội thể thao, hội đua ngựa vv… cho đến sau cuộc lật đổ chế độ vào tháng 11 năm 1963, Giáo hội Phật giáo mới được trở lại vị trí xứng đáng của mình.
Ngay các xã hội tây phương, nhất là Mỹ nơi thường hãnh diện là xứ sở tự do, nhất là tự do tín ngưỡng, nhưng trong đời sống thực tế, chính quyền của họ vẫn luôn giành ưu tiên cho Ki-tô giáo, vì khối tín đồ này chiếm đa số và có thực lực chính trị. Họ gọi đó là truyền thống của họ và muốn luôn luôn được duy trì ưu tiên. Họ luôn luôn dùng cuốn Bible trong các buổi tuyên thệ nhậm chức lớn nhỏ. Nhà thờ luôn luôn có buổi học đạo gọi là “Sunday schools”, họ thuê hàng đòan thanh niên ăn mặc chỉnh tề gọi là “missionaries” đến gõ cửa từng nhà để chiêu dụ cải đạo và phân phát Bible mặc kệ sự khó chịu của người dâ bị quấy rầy. Bible còn được đều đặn biếu không trong mỗi phòng ngủ của hotels; chưa kể đến những kênh TV, radio giảng đạo ra rả cả ngày đêm và những TV Evangelists, mega churchs vv… diễn nhiều trò bịp bợm vơ vét tiền bạc của đám tín đồ ngây ngô. Đã có khá nhiều ông đạo điên khùng chế ngự và xúi giục cả họ đạo tự sát chỉ vì tin điên cuồng vào “ngày tận thế” trong cuốn Bible. Họ tạo đủ mọi thuận lợi cho Ki-tô giáo phát triển bằng mọi phương tiện, chính sách, luật lệ, thuế má ưu đãi. Vì thế lắm kẻ đã lợi dụng biến dịch vụ truyền giáo trong và ngòai nước trở thành một hệ thống kinh tài làm ăn vĩ đại, dĩ nhiên chưa nói đến những họat động tình báo kinh tài ngầm khéo được che giấu với bàn tay lông lá của “chú Sam” ở đằng sau. Diễn văn của các giới chức cao cấp nào cũng kết thúc với câu “God Bless America!” Đồng đô-la nào cũng mang câu “In God We Trust”. vv…
Các tôn giáo khác khó hưởng được sự đãi ngộ “tự do tôn giáo” như Ki-tô giáo; chưa kể các nơi thờ tự còn bị các cặp mắt cú vọ của FBI luôn luôn rình mò cài đặt nghe ngóng như Hồi giáo, và giới truyền thông thì luôn  luôn tẩy não quần chúng khi dán nhãn hiệu “khủng bố” lên những người muslims. Tu sĩ nào công khai chỉ trích chính sách chiến tranh xâm lược của Mỹ liền bị Sở thuế, chứ không phải công an cảnh sát đến điều tra sổ sách để tìm cớ kết tội “tham ô tiền bạc liên quan đến thuế má” để bịt miệng, nếu không thì vào tù dễ như chơi. Cơ quan công quyền nào ở Mỹ cũng đều có quyền bắt người trước rồi tòa án xét xử sau. Chính phủ Mỹ chỉ dùng những chiêu “vô tội vạ” êm ái nhưng vô cùng hiệu quả để đối phó với những “dissidents” cho nên ở Mỹ không ai nghe đến “người tù lương tâm”, “nhà họat động dân chủ”, “nhà tranh đấu nhân quyền”… vì món hàng này đã được họ đã sản xuất qua các nước nằm ngòai quỉ đạo của tây phương. Đốt đuốc đi tìm lỗ con mắt cũng chẳng bao giờ thấy vì những kẻ có danh xưng như trên đều đã biến thành những tên tội phạm hình sự cả. Trong thời hội nhập, mong Nhà nước Việt Nam học hỏi được những siêu chiêu của Mỹ để trấn áp êm đẹp, mà không “trở thành tin nóng” bọn phá rối ở trong nứơc, nhất là trong các họat động tôn giáo theo sự chỉ đạo của ngọai bang. Đừng bao giờ gán cho bọn này những mỹ từ hảo, chỉ càng làm bọn chúng có thêm “credits” trên lý lịch cá nhân với chủ nước ngòai. Bọn chúng lúc nào cũng muốn được làm “kẻ tử đạo” hơn là “bọn phá rối an ninh trật tự”. Vì như ta đã biết tử đạo dù là do tội phản quốc sẽ được Vatican phong thánh và được lên thiên đàng ngồi cạnh Chúa Cha.
Trông người mà ngẫm đến ta, dù Phật giáo là tín ngưỡng của đại đa số quần chúng nhưng vai trò và vị trí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có đủ tầm cở như Tin Lành ở Mỹ hay không? Bởi đâu? Bởi chính sách chung chung của Đảng và Nhà nước hay bởi hàng ngủ tăng già lãnh đạo do năng lực kém cõi không huy động nổi khối tín đồ của mình thành một cộng đồng có thực lực chính trị và kinh tế mạnh để đòi hỏi cho đúng nhu cầu tín ngưỡng của mình?
IV. Xin lỗi, không phải “đạo nào cũng giống đạo nào”:
Hiện nay trên thế giới còn được khoảng 6 tôn giáo lớn chia nhau dân số của quả địa cầu là Ca-tô Rô-ma, Tin Lành và Chính thống giáo,  gom chung gọi là Ki-tô giáo (hay Cơ đốc giáo), Hồi giáo, Ấn giáo và Phật giáo.
Ki-tô giáo luôn được các thế lực tây phương xử dụng vào việc xâm lược. Đế quốc cũ từ châu Âu mang theo Ca-tô Rô-ma giáo đi chiếm thuộc địa; và đế quốc mới từ Anh Mỹ thì kéo theo Tin Lành và Do thái giáo đi chiếm tài nguyên. Lịch sử cũng cho thấy rằng chỉ có thế lực Hồi giáo mới có đủ khả năng chặn được các bước chân xâm lược “tòan cầu” kia, kể từ các cuộc “thánh chiến – crusades” trong các những năm 1095-1291 cho đến nay vẫn còn tiếp diễn ở khắp nơi. Không thể có được hòa bình giữa các khối dân khác văn hóa dù có tín ngưỡng độc thần.
Nhìn qua danh sách các nước hiện đang là điểm nóng của chiến tranh tôn giáo, dù đã được che đậy hay dán nhiều nhãn hiệu chính trị khác nhau, ta thấy có Afghanistan, Bosnia, Côte d'Ivoire, Cyprus, East Timor, India, Indonesia, Iraq, Kashmir, Kosovo, Kurdistan, Macedonia, Middle East, Nigeria, Northern Ireland, Pakistan, Philippines, Somalia, Sudan, Uganda vv…
Tại sao ở các nước có tín ngưỡng Phật giáo lại it thấy xung đột? Không hẳn là do tính bao dung của Phật giáo, nhưng có lẽ vì các tổ chức Phật giáo địa phương không đủ mạnh để đối kháng nổi sự xâm thực tôn giáo từ các đạo Chúa hung tàn, khi thì mậnh như vũ bão, khi thì âm thầm có bài bản chỉ đạo từ phương xa. Có vẻ như là ở các xã hội Phật giáo theo Nam tông, vì lối sinh họat của tăng già luôn gắn bó sâu sắc với quần chúng tín đồ nên sự cải đạo của Ki-tô ít thành công hơn là các nước theo Bắc tông Đại thừa. Hay là vì vị trí chiến lược của các nước Đại thừa có tầm quan trọng hơn nên luôn được các thế lực xâm lược tây phương chú ý đến?
V. Sau khi ôn cố đến tri tân:
a) Từ Pakistan:
Thống đốc Salman Taseer nói chuyện trước báo chí ở Islamabad (Ảnh Reuters - 28 Mar 2009)
Mumtaz Qadri sát hại Governor Salmaan Taseer sau khi nghe các bài giảng của đạo sĩ Qari Hanif và Ishtiaq Shah, một viên chức khác trong giáo hội
Thống đốc Salman Taseer của bang Punjab đã bị một cảnh sát viên trong đội hộ tống của ông tên là Malik Mumtaz Hussain Qadri giết chết bới 26 viên đạn. Lý do: Taseer đã mạnh mẻ lên tiếng bãi bỏ Luật Phạm Thượng (The blasphemy law) của Hồi giáo, thường được giới tu sĩ Hồi giáo cực đoan cổ xúy để trừng trị những kẻ đã có lời mộ phạm đến Giáo chủ Muhammad.
Qadri bị bắt và bị truy tố về tội sát nhân. Đảng Nhân Dân Pakistan đang cầm quyền cho rằng những lời giảng của hai đạo sĩ Qari Hanif và Ishtiaq Shah đã kích thích và khuyến khích Qadri ra tay.
Ngày 10 tháng Giêng , 2011 khi Qadri bị giải ra tòa ở Islamabad thủ đô của Pakistan thì thật bát ngờ dân chúng Hồi giáo đủ mọi thành phần, và nhất là thế hệ trí thức trẻ được gọi là thế hệ Zia, đã tụ tập để mạnh mẽ ủng hộ việc Qadri sát hại viên thống đốc. Họ còn gọi Qadri là anh hùng. Cả ngàn luật sư từ hai thành phố lớn Islamabad và Rawalpindi đã ký đơn tình nguyện bào chữa cho Qadri chỉ vì muốn làm sáng danh đấng tiên tri Muhammad và muốn duy trì Luật Phạm Thượng trong xã hội Hồi giáo. Khi Qadri ra tòa thì các lụât sư này đã tung rải những cánh hoa hồng trên người y. Lòng mộ đạo đã thấm sâu trong mọi tầng lớp xã hội của Pakistan.
Thế hệ Zia là thế hệ gồm những trí thức đã được đào tạo thời tướng Zia cầm quyền vào những năm 80s, thời kỳ Mỹ nuôi dưỡng phong trào thánh chiến chống quân Soviet xâm lăng Afghanistan. Quả là cảnh “nuôi ong tay áo” cho Mỹ và tây phương.
Trước tình thế này chính phủ Pakistan đành bó tay, không thể tiến hành điều tra thêm vì sức mạnh của dân ủng hộ thành phần đạo sĩ càng gia tăng. Ngay cả giới quân sự có thực quyền cũng im lặng tán đồng.
Điều đáng nói là các chính phủ tây phương, nhất là Mỹ và ngay cả Giáo hòang Benedict XVI gần đây đã kêu gọi Pakistan nên bãi bỏ Luật Phạm Thượng, vì cho rằng nó đã bị lạm dụng mà kỳ thị dân Ki-tô. Những kẻ thức thời thì cho rằng giới đạo sĩ càng muốn thi hành nó triệt để vì muốn tạo sự đồng nhất trong xã hội Hồi giáo. Thì ra, lòng sùng tín vào luật đạo của Hồi giáo là chất keo rắn chắc gắn kết sự đòan kết của xã hội Hồi bắt các nhà lãnh đạo chính trị vốn xuất thân là tín đồ phải triệt để tôn trọng, mới có được sự ủng hộ của dân chúng.
b) Qua Tucson, Arizona:
Dân biểu Gabrielle Giffords- Ảnh Associated Press
Dân biểu Gabrielle Giffords, 40 tuổi thuộc Đảng Dân Chủ của bang Arizona đã bị Jared Loughner, 22 tuổi, một thanh niên có tâm thần bất ổn ra tay sát hại bên ngoài một cửa hàng tạp hóa trong khi bà đang gặp mặt cử tri. Bà may mắn không chết tuy bị bắn vào đầu và đang hồi phục dần dần trong bệnh viện.
Vụ nổ súng này đã giết chết một thẩm phán liên bang và năm người khác, trong đó có bé gái 9 tuổi tên Christina Green, làm 14 người khác bị thương, đã làm rúng động cả nước Mỹ và thế giới
Không khí chính trị của Mỹ gần đây đã bị ô nhiễm trầm trọng bời những lời kích thích đầu độc của các tay chuyên viên chính trị và truyền thông thân đảng Cộng Hòa thường dựa vào những lời bình luận thiếu chính xác. Bọn này còn có sự cổ vũ tiếp tay của những giáo phái cuồng tín Tin Lành và Ca-tô Rô-ma địa phương. Nhất là Tea Party mới thành hình mà các thành viên đã được cựu thống đôc tiểu bang Alaska và ứng viên Phó tổng thống Cộng Hòa Sarah Palin hô hào quyết phá họai những thành quả của tổng thống da đen đầu tiên Barack Obama, nhất là chính sách thông khóang về “đồng tình luyến ái” trong quân đội và  luật Cải Cách Y Tế vừa được thông qua. Gabrielle Giffords lại thắng sát sao một đối thủ của Tea Party trong cuộc tranh cử vừa qua; và Arizona vốn được nổi tiếng là “thành đồng” của đảng Cộng Hòa và các giáo phái Tin Lành cuồng tín.
Các nạn nhân bị tử thương trong cuộc nổ súng ở Arizona gồm một bé gái 9 tuổi, một cựu thẩm phán. Ảnh Associated Press
Dân chúng tin rằng có thể sự chia rẽ chính trị cực đoan lên đến đỉnh điểm, lại được các cơ quan truyền thông khuynh hữu nhồi sọ liên tục đã đẩy Jared Loughner điên cuồng ra tay bắn giết.
Một điều khôi hài là các tín đồ cuồng tín của một nhánh Tin Lành, Westboro Baptist Church, thuộc bang Kansas dự định biểu tình chống “đồng tình luyến ái” trong các đám tang của 6 người tử nạn, mà bọn họ cho là thân đảng Dân Chủ, qua cuộc sát hại ấy nhưng đã bị Hạ viện tiểu bang Arizona kịp thời ngăn chận bằng cách bỏ phiếu thuận cho việc ban hành luật khẩn cấp hôm 11 tháng Giêng cấm biểu tình trong vòng 300 bộ gần buổi lễ.
Nhóm giáo dân cuồng tín này thường rêu rao rằng nước Mỹ đang bị Chúa phạt vì đã tràn lan “đồng tình luyến ái”. Họ đã từng trơ tráo biểu tình trong đám tang của tử sĩ từ các chiến trường Afghanistan and Iraq; và đã gắn nhiều bản chống “đồng tình luyến ái” trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington ở Virginia vào ngày Cựu Chiến Binh vừa qua November 11, 2010. Họ cũng đã biểu tình chống “đồng tình luyến ái” trong đám tang của Bà Elizabeth Edwards, vợ của ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ John Edwards đã mất vì bệnh ung thư vú, tại nhà thờ Methodist ở Raleigh, North Carolina vào ngày 6 tháng 11 chỉ vì gần cuối đời Bà không còn tin ở Chúa sau khi đứa con trai 16 tuổi qua đời.
Ai bảo các sinh họat chính trị và tôn giáo của dân Mỹ “rất văn minh và lịch sự”?
VI. Đến Việt Nam:
Gần đây trên trang nhà Phật Tử Việt Nam trong nước thường xuất hiện các bài của tác giả Minh Thạnh báo động về các họat động cải đạo rầm rộ của các tôn giáo Ki-tô ở trong nước, nhất là sự trỗi dậy họat động của Tin Lành; dĩ nhiên là có sự tiếp tay tài trợ mạnh mẽ từ bên ngòai, nhất là từ Mỹ và Nam Hàn. Các bài viết của tác giả này đã được loan truyền nhanh chóng trên các trang mạng Phật giáo ở hải ngọai.
Ai cũng biết từ khi Việt Nam với chính sách kinh tế mở cửa và gia nhập WTO, Nam Hàn là đầu cầu sớm nhất ra tay hổ trợ về mọi mặt. Theo đó, du học sinh và thiếu nữ Việt lấy chồng Hàn gia tăng nhanh chóng. Trong bối cảnh tranh tối tranh sáng, chính quyền Việt Nam không chuẩn bị một chính sách chiến lược dài hạn về nhân lực đã vô tình để một bộ phận thanh niên rơi vào vòng tay cải đạo của các đòan truyền giáo Tin Lành, tựa như đồng bào Việt tị nạn trên đất Mỹ vào những năm 80s và 90s, qua các quỉ thuật tinh vi từ giúp đỡ vật chất trong khi túng quẩn đến giúp công ăn việc làm vv... Một số lớn đã không thể nào thóat ra khỏi vòng kim cô này và đã trở thành những chuyên viên cải đạo chuyên nghiệp khi quay về lại tổ quốc. Nam Hàn là tiền đồn mạnh mẻ của Tin Lành Mỹ ở Á Châu. Chuyện xảy ra vài năm trước đây nhiều người vẫn còn nhớ! Một đòan thanh niên Tin Lành Hàn quốc nghe quan thầy xúi dại theo chân lính Mỹ vào Afghanistan để rao giảng cải đạo đã bị lực lượng kháng chiến Taliban sát hại và bắt làm con tin một thời gian đến khi tiền chuộc được trao mới được về nước chưa kịp hòan hồn.
Sự việc cải đạo được lập lại ở Việt Nam với sự hấp dẫn bội phần vì đa số dân chúng vẫn còn sống trong vòng đói khổ và thất học, nhất là ở những vùng cao. Người dân trong nước sau bao năm chiến tranh cơ cực bỗng chốc với chính sách mở cửa, đã bị chóang ngợp với hình ảnh của các xã hội “văn minh vật chất” của Hàn và Mỹ, suốt ngày được trình chiếu trên các màn ảnh nhỏ, cùng với những thời trang và tiện nghi điện tử bày bán trên phố, không khỏi làm người dân so sánh đến hòan cảnh thực tại thua sút của xã hội mình đang sống mà không đủ kiên nhẫn chờ đợi sự canh tân của đất nước. Tín ngưỡng truyền thống Phật giáo đã không thể đem lại cho xã hội đời sống sung túc, vì những lời giảng “diệt tham sân si để được giải thóat” một cách cứng ngắc, thiếu ứng dụng thực tế của hàng tăng sĩ. Dân chúng sẽ ngộ nhận cho rằng chỉ theo Tin Lành là theo nền “văn minh hịện đại thời thượng”; đi theo Chúa Trời và Jesus mới thóat khỏi đói nghèo. Cũng cùng một bài bản của cha ông trước đây khi chạy theo Ca-tô Rô-ma giáo do lời quyến rũ của các cố đạo mà đất nước rơi vào tay thực dân. Thế là đã mắc mưu lớn.  Họ đã nhầm hình ảnh trên phim với hình ảnh thực tế. Họ có biết đâu rằng xã hội ở các nước được “cải đạo” còn khốn khổ lầm than gấp bội so với xã hội chủ nhân ông; bởi mức sống thuộc địa cũ hay mới vẫn không thể nào bằng mức sống của mẫu quốc. Hãy nhìn theo gương Trung Quốc, chỉ có độc lập tự chủ thì mới có ngày tự cường sung túc. Nào có cần Chúa Cha Chúa Con nào phù hộ đâu?
Sau khi đọc xong bài “Lửa đã cháy ở Mỹ Đình, bao giờ lan đến Quán Sứ?” của Minh Thạnh và Trọng Hoàng, tôi tìm hiểu thêm thì biết rằng bài có đầu đề “Lửa Đã Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đình, Hà Nội” đã cũ, từng xuất hiện trên trang HoiThanh.Com nói đến sự kiện đã xảy ra vào đêm 20/12/2009, trong đó mô tả là đã có 12.000 “khán giả” (chứ không phải tín hữu, vì gồm nhiều kẻ hiếu kỳ!) tham dự và hơn 2.000 người tiếp nhận Chúa (có ai làm thống kê chăng?) tại Thủ đô trong một buổi tụ tập có đốt nến tại sân vận động Mỹ Đình, Hà Nội do Hiệp hội Thông công Tin lành Hà Nội (HCF) tổ chức. Nên biết Hiệp hội này chỉ mới được thành lập vào tháng 8 năm 2008. Quả là một sự kiện lich sử vì mấy ai tin rằng Tin Lành lại có thể lan truyền ra các tỉnh miền bắc và giương oai diệu võ như thế tại Hà Nội trong một thời gian ngắn như vậy. Đáng tiếc là bài báo trên trang HoiThanh.Com đầy rặt lối viết “giật gân, phóng đại, thổi phòng quá đáng” cứ như là mục sư trên bục giảng sau khi đã nhập đồng bóng với Chúa mà say sưa nói huyên thuyên những điều vô nghĩa, mà ông ta lại cho là “vô cùng ý nghĩa”. 
Đọc qua chương trình thấy có màn trình diễn mở đầu của “Gia đình Jacksons”. Cứ ngỡ là gia đình của cố ca sĩ Michael Jackson từ bên Mỹ qua, hóa ra là Mỹ da vàng đi làm việc Chúa, hát "Silient night", "What a wonderful child"... và các thánh ca bằng tiếng Việt. À thì ra là tòan những màn lừa bịp để lôi kéo khán giả Hà Nội đến cho đông theo lối “sơn đông mãi võ”; thảo nào mà không thiếu người hiếu kỳ đổ xô đến xem một buổi nhạc hội.
Đọc qua tiêu đề “Lửa Đã Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đình, Hà Nội”, nhìn vào Google Search thì lại lộ rõ trò sao chép chữ nghĩa của các tiêu đề giựt gân của các sự kiện khác ở cùng sân vận động trước đó. Nào là “Lửa rock “bùng cháy” tại sân Mỹ Đình”; “’Lửa” từ Mỹ Đình cháy, nhưng liệu có bỏng?”; “Xế hộp cháy đùng đùng tại Quảng trường Mỹ Đình”; “Sân Mỹ Đình bùng cháy với điệu Múa Rồng”; “Nổ lớn ở Sân Mỹ Đình, nghi là do kho pháo hoa.” vv và vv…
Vào đêm cầu nguyện 16/12/2009 trước sân Mỹ Đình, họ bảo là họ đối diện với bao nhiêu sự khó khăn... Khi đó, họ đã hát với nhau bài “Quyết dâng” với sự lời lẽ đao to búa lớn: “dầu sống, hay chết, quyết dâng trọn đời sống cho Jesus… để tôn cao danh Đức Chúa Trời trên đất nước Việt Nam.” đủ tỏ sự cuồng tín của đám tân tòng này.
SH chú thích: Không phải là một cuộc tập quân hay ở vũ trường -
chỉ là một đám đông bị bùa mê thuốc lú.
Tiếc rằng đã xảy ra ở một nước Cộng Sản!
Điều đáng nói là qua phần “thắp nến cầu nguyện” cho Việt Nam, cho sự hiệp một của đất nước Việt Nam với Chúa; họ đã đưa ra bản "Tuyên ngôn thuộc linh" được dõng dạc tuyên bố “trước hàng ngàn trái tim ngày đêm quặn thắt cho dân tộc” (sic): “Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đã bị tuyên bố cắt đứt, hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không còn tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước, Hội thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp một khắng khít trước mặt Đức Chúa Trời...” Đọc qua nghe luận điệu có vẻ quen quen của một tên mục sư trẻ mang danh Tiến Sĩ Lê Anh Huy ở Hoa Kỳ! Đường dây ghê gớm thật.
Tôi chẳng hiểu nổi Nhà nước nào đã cho phép những đứa con hoang tụ tập để xỉ vả tổ tiên của đất nước mình chỉ vài tháng trước Đại Lễ Kỷ Niệm Một Ngàn năm Thăng Long. Hay là món quà đô-la hậu hĩ đã làm mờ mắt UBND Thành Phố Hà Nội?
Không những thế, mùa Noel năm nay Tin Lành lại cố làm thêm “Mùa Gặt 2010 – Mùa bội thu cho Đức Chúa Trời?” tại thành phố Hồ Chí Minh bằng cách kêu gọi dân thành phố đến cho đông để…xem trình diễn văn nghệ. Luận điệu giảng đạo quen thuộc: “Xin Ngài đụng chạm mỗi tấm lòng khi họ nghe đến Phúc Âm của sự cứu rỗi, quyền năng Ngài bẻ gãy mọi sự trói buộc của ma quỷ để người dân Việt Nam đến với Chúa trong sự tự do. Mùa gặt 2010 sẽ là mùa gặt bội thu cho Chúa nếu con cái Ngài nắm lấy lời hứa của Ngài đã dành cho, chúng ta sẽ không chỉ thấy hàng ngàn người thờ phượng Chúa nhưng sẽ là hàng trăm ngàn người, hàng triệu người được cứu rỗi trên đất nước của chúng ta trong mùa giáng sinh năm nay.” Mọi sự trói buộc của ma quỷ? Ám chỉ Đức Phật như tên cố đạo Alexandre de Rhodes đa từng hổn láo hay muốn nói đến Đảng Cộng Sản Việt Nam chăng? Hình như Đảng Cộng Sản Việt Nam lúc này hiền như bụt, do ăn nhiều bơ sữa chăng? Bọn chiên cừu be he chế giễu trước mặt nhưng vẫn “lim dim thiền”.
Nói cho cùng thì “Lửa Đã Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đình, Hà Nội” chỉ là một trò “nổ” mua vui cho dân Hà Nội vào mùa Noel và giúp cho công nhân các dịch vụ thêm công ăn việc làm mà thôi. Bởi vô vàn tin tức thời sự mới hằng ngày đã nhanh chóng nhấn chìm những lọai tin giảng đạo vu vơ như vừa kể. Đồng bào Phật tử cứ an tâm, chùa Quán Sứ vẫn vô hại như Kim Cang tòa; và Phật giáo không cần phải tổ chức những màn trình diễn cải đạo lố bịch như thế, mất đi vẻ “uy nghiêm cõi Phật”.
b) Lễ Bế mạc Năm Thánh 2010
Trong ba ngày (4, 5 và 6/1/2011), tại Giáo xứ La Vang, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), Giáo hội Công giáo Việt Nam đã tổ chức Đại lễ Bế mạc Năm Thánh 2010. Năm Thánh kéo dài từ 24/11/2010 đến 2/1/2011, mở đầu với Lễ khai mạc Năm Thánh tại Hà Nội, và kết thúc với Lễ Bế mạc được tổ chức tại Giáo xứ La Vang, thuộc Giáo phận Huế để kỷ niệm 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, 350 năm thành lập 2 giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài. Hồng y Ivan Dias, Đặc sứ của Giáo hoàng Benedicto 16 và đại diện Giáo Hội một số nuớc trên thế giới và khu vực cũng đã đến La Vang tham dự.          
Chính quyền tỉnh Quảng Trị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp cho việc tổ chức các hoạt động tôn giáo trong những ngày diễn ra Đại lễ thành công.
Nội dung Năm Thánh của Giáo Hội Ca-tô Rô-Ma Việt Nam xoay quanh chủ điểm là “Sám hối và hòa giải” theo tinh thần giáo huấn của Giáo hoàng Benedict 16 qua cuộc tiếp kiến với 29 giám mục Việt Nam, tại Vatican vào tháng Sáu 2009. Ông đã từng tuyên bố: "Các giáo dân Công giáo cần chứng tỏ - qua cuộc sống dựa trên bác ái, lương thiện, yêu chuộng công ích - rằng một tín hữu Công giáo tốt cũng là một công dân tốt".  Ông còn thêm nhân dịp đại lễ: “Năm Thánh là một thời điểm chứa chan ân sủng, thuận lợi cho việc hòa giải với Thiên Chúa và anh em đồng loại. Trong ý hướng đó, chúng ta nên nhìn nhận những sai lỗi chúng ta đã phạm trong quá khứ và hiện tại, đối với anh em đồng đạo và anh em đồng bào, và xin mọi người tha thứ”. Giáo hoàng Benedict cũng nhấn mạnh đến sự đóng góp tích cực của Giáo hội vào sự phát triển đất nước: "Sự tham gia của Giáo hội vào tiến trình này là một nghĩa vụ... Giáo hội không hề muốn thay thế các vị hữu trách chính quyền, chỉ mong muốn có thể tham gia chính đáng vào đời sống quốc gia, trong tinh thần đối thoại và cộng tác tôn trọng, để phục vụ toàn dân". Nghe thật là êm tai… Nhà nước! Lời dịu dàng của con sói nói với cô bé choàng khăn đỏ trong khi tìm cách ăn thịt con mồi.
Vì thế các bài diễn văn của các chức sắc trong Lễ khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện gần Hà Nội, Giáo hội Công giáo nhấn mạnh đến Sám hối - Hòa giải, một trong các chủ đề của Năm Thánh và mời gọi tín đồ sống tâm tình ấy. Đặc biệt, cũng qua dịp lễ đại lễ này, ngoài việc xin lỗi Chúa và xin lỗi nhau, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã xin lỗi anh chị em đồng bào một cách công khai, chính thức và tập thể.
Cha Phêrô Nguyễn Văn, Chủ tịch HĐGMVN nhấn mạnh: "Chúng ta khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm thiếu sót đó, chân thành xin Chúa và mọi người tha thứ, để với tâm hồn thanh thản, chúng ta mạnh mẽ tiến lên trên con đường loan báo Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng bào của mình."
Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, phó Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã lặp lại lời xin lỗi đó: "Chúng tôi muốn nói lời xin lỗi với tất cả những ai, cách này hay cách khác, đã không hài lòng về người công giáo và về Giáo Hội Công giáo."
Chiều 5/1, Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, đại diện lãnh đạo Đảng, Chính phủ, UBMTTQ Việt Nam đã đến dự và phát biểu chúc mừng. [Làm ta nhớ lại cố Tổng Thống Ca-tô Diệm đến dự Đại Lễ Đức Mẹ La-Vang ngày 15/8/1961. Ôi thời thế đổi thay! Bà Maria ở đâu? Sao không hiện ra và nói rõ sẽ tiếp ai và chối ai đây?].
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định “Giáo hội Công giáo Việt Nam là một tôn giáo luôn đồng hành với dân tộc và là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân”. Lại lạm dụng câu “luôn đồng hành với dân tộc!”. Từ nay Phật giáo không còn độc quyền tuyên bố câu này nữa đấy nhé! Đảng đã ra lệnh!
Ông tiếp: “… Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân và luôn coi đó là một chính sách nhất quán bảo vệ quyền lợi chính đáng của tín đồ các tôn giáo khác nhau. Chính sách ấy là nền tảng cho quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước, chính quyền địa phương với các tôn giáo, tạo điều kiện cho đồng bào công giáo sống tốt đời đẹp đạo”.
Dĩ nhiên trong tâm trí của mọi người đến dự luôn luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh của các vụ bạo lọan của giáo dân Thái Hà, ở Hà Nội, Tam Tòa ở Quảng Bình vv… vốn đã gây căng thẳng trong quan hệ giữa Giáo hội và chính quyền.
Nhà Nước đã từng tuyên bố Việt Nam có chủ trương rất rõ ràng về đất đai các cơ sở tôn giáo. Như lời phát biểu của ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Thường trực Ban Bí thư Đảng cuối tháng 7 vừa qua, Chính phủ sẽ tập trung giải quyết các khiếu kiện liên quan đến đất đai cơ sở tôn giáo "trên cơ sở chính sách pháp luật hiện hành", tức là dựa vào các quy định ban hành trước ngày 1/7/1991 thì thực hiện theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội.
Pháp luật là tối thượng. Ở Hà Nội, Phó Chủ tịch UBND/TP Vũ Hồng Khanh khẳng định nếu cơ sở tôn giáo trên địa bàn thành phố có nhu cầu sử dụng đất đai chính đáng, thành phố sẽ xem xét, trong trường hợp nhu cầu đó phù hợp với quy hoạch thì thành phố sẽ giải quyết.
"Những hành vi lợi dụng việc giải quyết nhà, đất liên quan đến tôn giáo gây rối trật tự xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong cộng đồng dân cư, vi phạm pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật".
Thế nhưng những “bọn thù nghịch” trong cái giáo hội này chưa chắc đã chịu “Sám hối và hòa giải”? Bản tin của BBC phần Việt ngữ lại có lời đâm thọc: “Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, đất nước đã ‘thống nhất’ nhưng vì lý do lịch sử, vì cố tình hay vô ý, hình như giữa người Việt với nhau vẫn còn những ngăn cách về chính trị, tôn giáo, địa lý. Phải chăng đã đến lúc cần dẹp bỏ những rào cản ngăn cách ấy?” Không nghe bản tin nói đến những sự xúi giục không ngưng từ nước ngòai và Vatican.
Tình cờ đọc được một bài trên VietCatholic News (06 Jan 2011) có tựa đề “Cảm nhận từ La Vang” của ông Giám mục Hải Phòng GM Giuse Vũ Văn Thiên, thì  theo ông “Từ thời xa xưa, vào năm 1798, tại nơi này, Đức Mẹ đã hiện ra để gặp gỡ an ủi những tín hữu đang lánh nạn vì cuộc bắt đạo tàn khốc… Câu chuyện La Vang xưa mà không cũ. La Vang là sự kiện của quá khứ nhưng cũng là của hiện tại, là chuyện của hôm qua mà cũng là chuyện của hôm nay. … Mỗi dịp Đại Hội Thánh Mẫu La Vang, việc Đức Mẹ hiện ra để an ủi các tín hữu đang chịu bách hại lại được tái diễn, ấy vậy mà mỗi lần diễn lại, câu chuyện ấy vẫn mới, vẫn làm nao lòng người. Đó là câu chuyện của ngày xưa, nhưng lại ảnh hưởng đến những vui buồn nhân thế hôm nay. Mỗi dịp Đại Hội, câu chuyện ấy lại mang một nét mới, lại để lại những dấu ấn, những cảm nghiệm rất riêng tư và sâu đậm nơi lòng người tham dự.”
Hàng lãnh đạo giáo hội thì kêu gọi “Sám hối và hòa giải”; còn các ông áo đen áo đỏ riêng rẻ vẫn ấm ức mối hận “bị Đảng và Nhà Nước bách hại”, và đến La Vang là để cầu nguyện Bà Maria cứu vớt như thời Cảnh Thịnh trước đây. Ông Giuse Vũ Văn Thiên còn cương ẩu theo lối cảm hứng lên đồng tựa như các ông Mục sư nói trên: “Cách đây 213 năm, Đức Mẹ đã đến thăm con dân Việt Nam trước khi Mẹ đến Lộ đức (1858), trước khi Mẹ đến Fatima (1917). Điều này cho thấy Mẹ Thiên Chúa đã dành cho Giáo Hội và Dân tộc Việt Nam những ưu ái đặc biệt. Trước những đau khổ của các tín hữu công giáo Việt Nam, Mẹ đã đến để an ủi và nâng đỡ họ.”
Ông tiếp tục mê sảng: “Nhân dịp bế mạc Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam 2010, La Vang được chọn để cử hành biến cố quan trọng này. Việc cử hành lễ Bế mạc Năm Thánh tại La Vang mang ý nghĩa quan trọng: Giáo Hội Công giáo Việt Nam vào thời điểm kết thúc Năm Thánh muốn phó thác mọi dự tính tương lai của mình nơi Mẹ Thiên Chúa. Mẹ La Vang củng cố chúng ta trong đức tin: những tín hữu lánh nạn vào rừng La Vang để giữ gìn một đức tin trọn vẹn. Vì trung thành với Chúa mà họ từ bỏ gia đình, quê hương và tài sản để đến nơi hoang sơ này.”
Cũng lạ, một ông Giám Mục mà lại cuồng mê “Mẹ Thiên Chúa” như thế huống chi là giáo đồ ít học. Mẹ Thiên Chúa có nghĩa là Thiên Chúa là do bà Maria “đồng trinh” sinh ra sau khi thánh linh của Thiên Chúa đã hảm hiếp bà (bởi bà đâu có đồng ý!). Mà khi xưa Thiên Chúa lại ngồi buồn đem đất sét nặn ra tổ tiên nghìn đời của bà Maria. Thiệt là “đau cái đầu. Hiểu chết liền!.”
Ông Giám Mục Thiên này không khéo lại “lỡ mồm lỡ miệng “ như ông Tổng Kiệt nhục nhã, tiết lộ bí mật của giáo hội Ca-tô Rô-ma khi chưa được phép. Nhờ ông mà Nhà nước nay mới hiểu việc giáo hội chọn La Vang để cử hành Lễ bế mạc là đã có ẩn ý nhắn nhe với Đảng và Nhà nước Việt Nam về sự bực bội nói không ra lời của mình. Và việc tổ chức tại La Vang cũng đã được tính tóan trước để tiện cho Christian Marchant, viên chức chính trị Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội tìm cách đến liên lạc với ông cựu LM Nguyễn Văn Lý đang bị quản thúc tại gia trong Nhà giòng trên đường Phan Đình Phùng, TP. Huế. Vụ việc bị phát hiện kịp thời và bị giới công an hữu trách Huế ngăn chặn, làm tên này với thái độ lố lăng, đã hành xử thô bạo cứ như “quan thái thú” ở Sài Gòn thuở còn làm cha chú trên đất nước Việt Nam; chẳng coi luật pháp sở tại ra gì cả.
Hóa ra những lời lẽ trong các bài diễn văn phát biểu chỉ là sáo ngữ chính trị, đầu môi chót lưỡi của các giới chức hai phía. Đôi bên cứ như là hai kẻ “đồng sàng dị mộng”, miệng thì thơn thớt nhưng trong bụng luôn chứa sẳn một bồ dao găm để chờ dịp là thọc huyết nhau.
Nhưng tiếc thay chuyện Đức Mẹ hiện ra ở La Vang chỉ là một trò ảo thuật khiên cưỡng, và được các ông nhà giòng say sưa vẽ vời theo cảm tính tôn giáo của mình. Theo nhà nghiên cứu Lê Xuân Nhuận thì Tòa Thánh Vatican, trong tuần-báo “L'Osservatore Romano”, tiếng nói chính thức của Ca-Tô Rô-ma giáo, trong số ra ngày 12-19/8/1998, đã thành thật xác quyết rằng: “Tiếc thay, không có một văn bản tài liệu nào chứng minh các lần Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang”; chỉ vì một lý do đơn giản là Đức Mẹ không hề hiện ra tại La Vang! Xin vào trang http://lexuannhuan.tripod.com/LaVang.html để rõ thực hư về chuyện Đức Mẹ La Vang.

VII. Lời Kết:
a.  Chỉ có kẻ ngu ngơ mới bảo là “trong tôn giáo không có chính trị, và trong chính trị không có tôn giáo” hay “tôn giáo nào cũng giống nhau, chuyên dạy điều đạo đức”. Ki-tô giáo luôn luôn ráo riết xâm nhập vào xã hội Việt vẫn theo bài bản cũ trong lịch sử trước đây, để làm tan rã sự đòan kết keo son vốn nhờ nó đã từng chống lại các cuộc xâm lược của các đế quốc hùng mạnh nhất của thế giới. Nếu trước đây trên bước đường xâm lược quân Nguyên Mông, Tống, Minh, Thanh vv… mà có được một tôn giáo độc thần len lỏi dẫn đường, thì đất nước ta đã bị Bắc thuộc muôn đời không trổi dậy được. Bài học này con cháu có chóng quên chăng?
b. Tự hỏi nếu muốn có “tự do tôn giáo” tại sao tín đồ Ki-tô không tự lập lấy giáo hội quốc gia, với sự giúp đỡ và bảo vệ của Nhà nước, mà lại cứ luôn chịu sự giựt dây của ngọai bang, chịu cúi mình trước những ràng buộc của giáo triều quân chủ độc tài nham hiễm Vatican hay các chủ nhân tài phiệt ở Washington hay London, để luôn gây bất ổn cho quốc thái dân an? Lại nữa, các sự kiện tôn giáo ở nước ngòai bây giờ chỉ là chuyện nhỏ, bởi ai cũng biết Thiên Chúa chẳng giúp đỡ cứu vớt gì được ai chỉ vì Ông chẳng hề có; nhưng sao lại làm lớn chuyện ở Việt Nam?
Nay tuy Vatican không còn kinh khiếp như xưa vì ảnh hưởng chính trị tòan cầu của các đế quốc châu Âu đã tàn, nhưng Ca-tô Rô-ma giáo vẫn còn là mối đe dọa cho sự tòan vẹn độc lập của tổ quốc ngày nào mà khối giáo dân Việt vẫn còn bị đầu độc bởi bọn tu sĩ trong hệ thống Vatican. Nay thì Tin Lành đang thay thế ảnh hưởng tòan cầu của Ca-tô Rô-ma giáo nương theo thế mạnh của Hoa Kỳ, và trở thành công cụ xâm lược cho thế lực đế quốc mới này. Cả hai đều muốn thay thế giới lãnh đạo Việt Nam bằng người của họ để dễ sai bảo như các lãnh tụ miền Nam trước đây.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước nên nhìn các họat động tôn giáo cải đạo Ki-tô trong bối cảnh một chiến lược xâm lăng dài hạn không ngưng nghỉ của các thế lực đế quốc kể từ thế kỷ thứ 16 để phác họa một chính sách đối đầu dứt khoát. Hãy xem các họat động truyền giáo cải đạo là các họat động tiếp tay gây rối chống phá đòi lật đổ Nhà nước. Nếu không có một chính sách tôn giáo dứt khoát phân biệt bạn thù, thì đất nước khó có được yên ổn lâu dài để phát triển.
c. Đảng cầm quyền hiện nay giải phóng được dân tộc khỏi gông cùm xiềng xích của Tây Mỹ và Vatican sau bao thế hệ khác đã thất bại, cũng nhờ đòan kết được dân tộc không bị nạn Ki-tô phá họai. Nhưng nay khi sống trong môi trường hội nhập mới với đầy đủ tiền tài, tiện nghi vật chất hình như tinh thần đảng viên cán bộ đã bị thóai hóa, mất cảnh giác cách mạng bởi quốc nạn tham ô mua chuộc hối lộ, hay áp lực liên tục không cưỡng nỗi của ngọai bang. Lọan Degar ở tây nguyên do Ki-tô giáo giựt dây mới ngày nào đã bị bỏ quên chăng?
Đảng chiến thắng trong gian khổ hy sinh nhưng sẽ bị diệt vong dễ dàng trong ham muốn thụ hưởng vật chất và nhất là sự cám dỗ của đồng đô-la. Kẻ thù biết rất rõ như thế; nên chúng sẽ không trực tiếp trao tay mà sẽ gián tiếp do những “sứ giả truyền rao tin mừng của Chúa” mới được tuyển dụng đem lại một cách êm ái nhẹ nhàng; và tiền của Tin Lành cũng như của Vatican thì không bao giờ thiếu. Đợi khi thời cơ chin mùi thì chuyện lật đổ Đảng chỉ là vấn đề thời gian; và cuộc tắm máu sẽ diễn ra vô cùng khốc liệt.  Đến lúc ấy, Đảng quay tìm sự ủng hộ đại khối dân tộc thì quá muộn, a) vì đại khối dân tộc ấy đã bị cải đạo gần hết; b) vì lúc còn đang cầm quyền, Đảng đã không giúp kiện tòan cơ cấu tổ chức của khối tín ngưỡng đa số làm nòng cốt đủ vững mạnh để đối kháng với các thế lực ngọai xâm văn hóa và tôn giáo. Xem qua những hình ảnh hoằng pháp của tăng già ngày nay hình như tô màu rất đẹp chỉ dùng để làm trang trí cho các buổi lễ hội. Áo vàng chói lọi khắp nơi mà thành tích Phật sự thì chẳng gây được phấn khởi bao nhiêu. Hãy xem gương cách tổ chức của Hồi giáo trong các xã hội của họ.
d. Đảng và Nhà Nước phải làm cho nước mạnh dân giàu, thóat khỏi đói nghèo thì dân sẽ không trở thành nạn nhân của những trò cải đạo bằng hối lộ giúp đỡ vầt chất lúc nghèo khó. Phải tiêu diệt tham nhũng ở mọi tầng lớp cán bộ để duy trì lòng tin của dân vào Đảng. Phải chấn chỉnh luật pháp, kiện tòan các cơ quan chấp pháp để giữ vững an ninh xã hội. Có được vậy thì những thành quả ngày nay mới được trao truyền cho con cháu về sau; thập giá sẽ không cắm bừa bải trên Hồ Gươm, Vịnh Hạ Long, Núi Hương Tích, núi Yên Tử vv… và Đền Tổ vua Hùng ở Phú Thọ sẽ không thể bị cưỡng bức thành một La Vang thứ hai.
e. Hãy học sự khôn ngoan về chính sách tôn giáo của hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhất là đối với các tôn giáo ngọai nhập. Khi hùng cường thì kẻ thù cũng nể mặt tránh xa không còn giám đem những trò tiểu xảo ra hù dọa. Do đó, chỉ những nước nhược tiểu mới vẫn còn bị loay hoay thụ động, không thể thóat ra được những bao vây trùng điệp của thế cờ tôn giáo, nhân quyền, dân chủ vv… do kẻ thù cũ tiếp tục giăng bẩy. Vậy thì “chiến thắng vinh quang giành độc lập” như thế phỏng có ích gì? Muốn không bị chết do ung bướu thì nên sớm dứt khóat cắt bỏ nó đi khi mới phát hiện; đừng dây dưa đợi đến khi nó lan khắp cơ thể, chỉ vì chiêu bài “tự do tôn giáo” rởm mới loay hoay tìm thuốc thì dã muộn.

Thiên Lôi

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad (Hoàng Kim)

HỒI GIÁO VÀ NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD
Hồi giáo là điều cần hiểu biết đúng vì số tín đồ theo đạo Hồi trên thế giới hiện nay khá lớn, chiếm một phần tư dân số toàn thế giới  với trên 1,57 tỷ, đứng thứ hai chỉ sau Kito giáo. Cộng đồng Hồi giáo chiếm 25% tại Nam Á, 20% ở Trung Đông, 15% ở Châu Phi, và 13% ở Indonesia. Người theo đạo Hồi cũng có ở châu Âu, Trung Quốc, Nga và châu Mỹ nhưng tỷ lệ thấp hơn. Đạo Hồi chủ yếu có 2 dòng Sunni (75–90%) và Shia (20-10%).  Nhà tiên tri Muhammad, sinh ngày 2 tháng 5, sống vào khoảng năm 570 – 632, được những tín đồ Hồi giáo Islam toàn cầu gọi là “sứ giả của Thượng Đế” và tin là vị ngôn sứ Allah cuối cùng mà Thiên Chúa gửi xuống để dẫn dắt nhân loại.

Tôi tóm tắt  câu chuyện ‘Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad’ giữa hai vùng tối sáng. Tôi định mời bạn xem kèm video Prophet Muhammad (PBUH) Complete life story in English của BBC dưới đây để hiểu thêm về nhà tiên tri Muhammad nhưng dường như đã không may mắn. Cõi nhân gian bé tí nhưng hiểu biết đúng không dễ vì chúng ta nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau và nhiều ảo ảnh khúc xạ làm cho ta ngộ nhận lầm tưởng. Sự khôn ngoan là bớt nói hồ đồ và biết lắng nghe.
Nhà tiên tri Muhammad nói với chúng ta rằng ông chỉ là một người bình thường được may mắn làm sứ giả của Thượng đế để tiếp nhận và trao lại cho con người lời nhắn đó mà hậu thế gọi là Kinh Qu’ran
Quá trình đến với châu Phi, sang Trung Đông, Âu Mỹ và Ấn Độ, tôi được tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa, mới thấm hiểu tự do và cực đoan, thông suốt và vướng mắc, vô thần và đức tin, quả trứng nở ra con gà hay con gà đẻ ra quả trứng. Hành trình triết học là một chuỗi chiêm nghiệm để hiểu biết minh triết và tìm về tự thân. Tôi đã chuyên chú học và viết CNM365 suốt 5 năm qua (2012-2016) cùng sự liên hệ mật thiết với Wikipedia, nay đúc kết thông tin này cho mình và hiến tặng bạn đọc.  Mời bạn tìm hiểu thông tin chi tiết hơn tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-5/.
ObamaẤn tượng Obama” câu chuyện cũ mà tôi muốn nhắc lại đó là câu nói “tôn trọng mọi tín ngưỡng”. Obama vững tin vào tương lai của nước Mỹ. Dẫu vậy, một linh cảm mà tầm nhìn Obama đã thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy lo âu hơn. Tôi nhớ lại thông điệp sau cùng của Obama cuối năm 2016: “Tôi muốn kết luận lại bài diễn văn của mình bằng cách nói rằng tôi thừa nhận lịch sử đang kể một câu chuyện rất khác câu chuyện tôi nói ngày hôm nay. Chúng ta đã chọn một cái nhìn lịch sử đen tối hơn và đầy hoài nghi hơn. (Let me conclude by saying that I recognize history tells a different story than the one that I’ve talked about here today. There’s a much darker and more cynical view of history that we can adopt).
Một phần trong bức tranh thế giới hôm nay là Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad.
HỒI GIÁO
Sự ra đời Đạo Hồi có từ thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do nhà tiên tri Muhammad là vị sứ giả Thượng đế nhận được mặc khải cuối cùng Kinh Koran của Allah  Đấng Tối Cao, truyền  cho con người qua thiên thần Jibrael. Islam nghĩa gốc Hồi giáo là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế” và Muslim trong tiếng Ả Rập là chỉ người theo đạo Islam.
Xuất xứ Hồi giáo từ dân tộc Hồi Hột là một nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc Dân tộc Hồi Hột lãnh thổ lúc rộng lớn nhất vào khoảng năm 616 đến 840, vùng phân bố kéo dài từ đông Mãn Châu đến tây Trung Á. Tài liệu xưa nhất dùng danh từ “Hồi Hột”  là Liêu Sử soạn vào thế kỷ 12. Dân tộc Hồi Hột đã giúp nhà Đường dẹp loạn An Lộc Sơn. Đến thời Nguyên (1260 – 1368), dân tộc Hồi Hột chuyển đổi thành “người Hồi” để chỉ người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến thời Minh (1368 – 1644), cụm từ “người Hồi” dần đổi nghĩa để chỉ những người theo đạo Islam. Tại Trung Quốc từ  thời Nguyên, đã có cụm từ “Đại Thực giáo”, “đạo A-lạp-bá”, “Thanh Chân giáo” trong nhiều từ điển tiếng Hán và dùng phổ biến tại  các thánh đường Islam quán ăn, nhà ăn. Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo. Ở Việt Nam người dân quen dùng từ Hồi giáo hoặc Đạo Hồi.
Giáo lý căn bản của Hồi giáo tại duy nhất một quyển kinh Koran, gồm có 114 chương, 6236 tiết. Đối với các tín đồ Hồi giáo, kinh Koran là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng. Người Hồi giáo tin tưởng các vị sứ giả đến trước sứ giả Muhammad, kể từ Adam qua Noah, Abraham, Moise, đến Jesus. Người Hồi giáo cũng tin tưởng Cựu ước và Tân ước là kinh sách của Allah nhưng họ không thi hành theo vì sự “lệch lạc” do người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo tạo ra và thiên kinh Qur’an được Allah mặc khải xuống để điều chỉnh lại những gì đã sai trái ở hai cuốn kinh sách nói trên. Người Hồi giáo cũng kính trọng đức Jesus là một sứ giả rất được kính mến của Allah, nhưng họ không tin Jesus là con của Thiên Chúa mà Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Kinh Koran đã phán “Allah là Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật.” (trích 6:101). Người Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của Adam và Eva không là nguồn gốc tội lỗi của loài người. Không một ai có quyền rửa tội cho một ai khác, ngoại trừ Allah. Sự khác nhau giữa Kinh Cựu Ước, Kinh Tân Ước và Kinh Koran căn bản như sau: Kinh Cựu Ước: ‘Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình’ (sách Sáng Thế 1:27). Kinh Tân Ước: ‘Ta và Cha ta là một’ (Tân Ước Gioan 10:30). Kinh Koran: ‘Ngài là Đấng Duy Nhất. Allah Đấng Độc Lập và Cứu Rỗi. Ngài chẳng sinh ra ai và cũng chẳng ai sinh ra Ngài. Không một ai đồng đẳng với Ngài’. (Kinh Koran 112: 1-4).
Đạo Hồi kinh Koran liệt kê mười điều tâm nguyện
  1. Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
  2. Vinh danh và kính trọng cha mẹ.
  3. Tôn trọng quyền của người khác.
  4. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo.
  5. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
  6. Cấm ngoại tình.
  7. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
  8. Hãy cư xử công bằng với mọi người.
  9. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần.
  10. Hãy khiêm tốn
(*) Hai trường hợp đặc biệt được giết người mà không bị trọng tội là:
1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận.
2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.
Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi
1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài
2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối.
3) Bố thí.
4) Nhịn chay tháng Ramadan.
5) Hành hương về Mecca.
Tín đồ Hồi giáo có chín luật lệ
1) Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương.
2) Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế.
3) Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
4) Nghiêm cấm cờ bạc.
5) Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi.
6) Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.).
7) Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống.
8) Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
9) Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng
Đạo thường hằng trong vũ trụ. Theo quan điểm Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người “thuật nhi bất tác”, thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi.
Con người đầu tiên Adam do Thượng Đế tạo ra là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và thuở hồng hoang, khắp đất trời là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả. Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng Đế cai quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Do đẳng cấp của loài người cao và tự do ý chí nên dẫn đến lầm lạc rời bỏ Thượng Đế, và xa dần chính đạo. Khi Adam, con người đầu tiên lìa trần, con cháu ông thiếu sự chỉ dạy nên lầm lạc đi vào đường tối.
Vì vậy Thượng Đế đã gửi xuống nhân gian những vị Thiên Sứ để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có nhiều nhà tiên tri giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham, Moses, David  và Jesus … Tuy nhiên, do loài người chưa tỉnh ngộ và do sự tự cao, tự đại của con người, mà không theo chính đạo.
Muhammad là  vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất và là vị Thiên Sứ cuối cùng. Bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo. Abraham (Ibrohim) cử xuống cho Do Thái Giáo và Giêsu (Ysa) cử xuống cho Kitô giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Đấng Toàn Năng Allah mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, nhưng Kinh Koran là đầy đủ và hoàn thiện nhất.
NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD
Muhammad được sinh vào khoảng năm 570 tại Mecca (Makkah) và qua đời ngày 8 tháng 6 năm 632 tại Medina (Madinah). Hai thành phố Mecca và Medina thuộc về miền tây của Ả Rập Saudi ngày nay. Muhammad có nghĩa là “người được ca ngợi” trong tiếng Ả Rập. Tín đồ Islam khắp mọi nơi thế giới thường gọi ông là Nabi (al-nabi,النبي) “sứ giả (của Thượng Đế)”, Rasul-Allah (رسول الله ) hoặc Rasul có nghĩa là “thiên sứ của Thượng Đế”.
Một số tự điển lớn Anh Pháp dùng định nghĩa Prophet/Prophète “Sứ giả của Thiên Chúa”  và giải nghĩa thêm “Muhammad, người lập ra đạo Islam”. Các tín đồ Hồi giáo thường chúc tụng tiếng Anh là “Sall- Allahu alayhi wa salam” Peace and Benediction Upon Him”, viết tắt là PBUH, hoặc tiếng Pháp là “Paix et Bénédiction Sur Lui”, viết tắt là PBSL, tiếng Việt là ‘Cầu xin Allah ban ân phước và sự bình an cho ngài’, viết tắt là “(saw)” hay “(saas)”. Trong bản dịch tác phẩm văn học truyện Nghìn lẻ một đêm sang tiếng Việt và trên báo chí, ngôn ngữ tiếng Việt thông dụng thì nhà tiên tri Muhammad thường được gọi là Đấng tiên tri, Thánh Mô-ha-met hoặc Giáo chủ Mô-ha-met.
Nhà tiên tri Muhammad sinh ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập năm “Con Voi”. Năm ấy thống đốc vùng Yemen vào chiếm Mecca, trong đoàn quân có con voi chiến rất to, nên người ta gọi là năm Con Voi mà theo các sử gia ngày nay khoảng năm 569 – 571, số đông coi là năm 570. Thánh Muhammad là con đầu lòng của ông Abd-Allah và bà Aminah. Người Trung Đông và Ấn-Âu vốn có truyền thống lấy tên những người mình quý mến đặt cho con, nên tên thánh Muhammad rất thông dụng ngày nay.
Nhà tiên tri Muhammad không được biết mặt cha vì cha ông đã mất trên chuyến đi buôn xa vài tuần trước khi ông ra đời. Mẹ con ông từ đó được ông nội ông cấp dưỡng. Mẹ ông là người có học vấn và có sáng tác một số bài thơ, vẫn còn giữ được đến ngày nay. Tiếc thay, bà qua đời một cách đột ngột lúc ông lên sáu. Ông được ông nội rước về nuôi. Ông nội ông tuổi đã cao, nên ông cũng chỉ ở được với ông hai năm, sau đó được nuôi nấng và dạy dỗ bởi người bác là Abu Talib  là người thừa kế chức quản lý đền Al Haram.
Nhà tiên tri Muhammad lớn lên có tiếng là người đẹp trai và hào hiệp. Ông rất trọng tín nghĩa lại gia nhập nhóm nghĩa hiệp ở Mecca nhiều lần bênh vực những người cô quả bị cường hào ác bá ức hiếp nên được tặng ngoại hiệu là Al-Amin (người đáng tin cậy). Ông theo nghề buôn bán và không biết đọc biết viết như số đông người Mecca thời bấy giờ. Gặp năm đói kém, kinh tế thành Mecca bị suy thoái. Bác ông, ông Abu Talib mới đề nghị ông làm việc cho một goá phụ giàu có là bà Khadija, để quản lý cho bà các chuyến buôn hàng đường xa. Sau một thời gian làm việc cho bà Khadija, ông thành hôn với bà năm ông 25 tuổi. Phần nhiều các tài liệu nói rằng lúc ấy bà Khadija tuổi đã 40, nhưng theo sách của Baladhuri thì lúc ấy bà chỉ mới 28. Tất cả tài liệu đều nói rằng sau đó hai người sống với nhau hạnh phúc đến lúc bà Khadija qua đời, khoảng 24 năm sau. Bà Khadija trong khoảng 10 năm tiếp theo, đã sinh cho ông 7 người con, 3 trai 4 gái. Bé trai đầu tên là Qasim chỉ nuôi được đến lúc vừa mới biết đi. Những người sau mới nuôi được đến lúc trưởng thành, nổi tiếng nhất là con gái út, tên là Fatima.
Nhà tiên tri Muhammad lúc tuổi gần 40, khi cuộc sống đã tạm an ổn, thường hay đến động Hira núi Ánh Sáng  ở ngoại ô Mecca tu khổ hạnh theo lối tham thiền nhập định. Nhiều khi ông ở đấy mấy ngày liền và vợ ông phải cho người mang nước uống và thức ăn đến cho ông. Lúc ông 40 tuổi, vào một đêm cuối tháng 9 âm lịch Ả Rập (tháng Ramadan), tại động Hira, ông kể rằng ông chợt thấy một vầng sáng lạ hiện ra và nói “Ta là thiên thần Gabriel, được Thiên Chúa phái đến đây để báo cho anh được biết, anh được chọn làm sứ giả của Ngài”. Thiên thần dạy ông tẩy rửa theo nghi thức, và sau đó đưa cho ông một tấm lụa dài có thêu chữ bảo ông đọc. Ông trả lời rằng: Tôi không biết đọc. Thiên thần mới ôm siết lấy ông và nói: “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi, Đấng đã tạo ngươi từ một hòn máu đặc…” Ông đọc theo sau đó.
Dongda Hira Mecca
Động đá Hira ở Mecca là nơi mà thánh Muhammad đã nhận được kinh Koran theo các học giả Islam. Thiên thần Gabriel sau lần gặp đầu tiên đã tiếp tục đến với nhà tiên tri  Muhammad nhiều lần với những điềm lành, và tiếp tục mang đến thêm những lời kinh bảo ông học thuộc. Những lời kinh Koran ấy có thứ tự trình bày ngược với thứ tự thời gian mà thiên thần Gabriel mang đến. Câu đầu của Koran, “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi…” sau trở thành câu 1 của chương 96.
Nhà tiên tri Muhammad sau đó bắt đầu truyền đạo Islam. Những giáo lý cơ bản như đã được tóm tắt ở phần trên. Người tín đồ đầu tiên là vợ ông, bà Khadija. Kế đến là người nô lệ vừa được ông trả tự do tên là Zaid. Rồi ông làm một buổi tiệc mời thân bằng quyến thuộc đến nhà, và giới thiệu về Islam. Sau buổi tiệc đó, con của ông Abu Talib, tuyên bố theo đạo. Kế đến là người bạn chí thân của ông, ông Abu Bakar, một doanh nhân giàu có, cũng tuyên bố theo đạo và lập tức trả tự do ngay cho 8 người nô lệ của ông. Ông cũng truyền đạo rất tích cực và ông Othman rể của nhà tiên tri Muhammad cũng thuận theo.
Khoảng năm 613, một hôm, theo tập quán cổ truyền khi có việc hệ trọng, nhà tiên tri Muhammad đã kêu gọi mọi người quy tụ trên đồi Safa ở Mecca. Ông bắt đầu bằng câu hỏi: Mọi người có tin không nếu tôi nói rằng phía sau ngọn đồi này đang có một đoàn quân đang hạ trại để chuẩn bị tấn công chúng ta ?. Người ta trả lời rằng: Ông chưa hề nói dối, dĩ nhiên ông nói gì ai cũng sẽ tin. Ông mới bắt đầu rằng: Thiên Chúa đã sai phái tôi đến cảnh cáo mọi người, và ai không nghe tôi hãy coi chừng cơn thịnh nộ của Ngài. và tiếp tục bài giảng. Từ đó, ông thường xuyên giảng đạo trước công chúng.
Quả như lời ông tiên tri, vì giáo điều Islam ngược lại với tín ngưỡng và lợi tức kinh tế của thành Mecca giảm sút sự dâng hương cúng tế nên một số người của dòng Qureysh bắt đầu có phản ứng mạnh để ngăn chống sự phát triển của Islam. Họ thương lượng và tìm nhiều biện pháp để ông chấm dứt truyền đạo. Họ châm biếm, chế nhạo, chửi rủa và ném đá khi ông gảng đạo. Họ chặn các bộ lạc từ xa đến hành hương và dặn đừng đến nghe ông. Đối với những người từ xa đến Mecca làm việc, thường là nô lệ thì họ dùng những cực hình dã man để bức bách bỏ đạo.
Năm 615, do sự bách hại đó, nên khoảng 101 tín đồ Islam, trong đó có 18 phụ nữ, dẫn đầu bởi ông Othman là rể của nhà tiên tri Muhammad đã buộc phải trốn khỏi Mecca và đi  tị nạn ở Abyssinia. Ông Othman vào yết kiến vị hoàng đế xứ này và được chấp thuận tị nạn. Phe bảo thủ Mecca cho người đến Abyssinia đòi, nhưng bị khước từ.
Năm 619, ông Abu Talib, người đã nuôi nấng nhà tiên tri Muhammad từ lúc còn thơ, và là người đã cương quyết bảo vệ ông trước phe bảo thủ qua đời  lúc ông đã hơn 80 tuổi. Vài hôm sau lại đến lượt bà Khadija từ trần. Năm ấy việc truyền đạo gặp nhiều khó khăn vì lúc bấy giờ quyền quản lý đền Al Haram được về tay ông Abu Lahab, một trong hai người chống đối nhất của ông.
Năm 620, một hôm, thánh Muhammad kể lại với tín đồ và công chúng rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Sau đó ông cưỡi con thiên mã lên các tầng trời, được gặp các thánh đời trước như tổ Adam, Chúa Giê-Su, thánh Moses và thánh Abraham rồi được vào bái kiến Thiên Chúa . Dịp này, ông đã nhận được lệnh là các tín đồ Islam phải cầu nguyện 5 lần mỗi ngày.
Tín đồ lắm người hoang mang ngờ vực, không biết còn nên tiếp tục tin ở ông hay không. Nhưng những điều lạ mà ông tiên tri cho đoàn khách thương được xác nhận khi về đến Mecca đã làm cho sự cầu nguyện mỗi ngày 5 lần trở thành giáo điều căn bản của Islam. Ngày nay, tại các xứ Islam, mỗi năm ngày 27 tháng 7 âm lịch Ả Rập là ngày nghỉ lễ để kỷ niệm chuyến đi lên thượng giới của ông, gọi là chuyến đi Miraj. Tại các đền chùa, người ta cầu nguyện suốt đêm.
Khoảng năm 620 có vài người Yathrib theo đạo, trở về truyền giảng được thành công lớn. Năm 621, tại đồi Aqaba ở Mecca, thánh Muhammad lần lượt gặp hai phái đoàn người Yathrib. Thành phố Yathrib nằm cách Mecca khoảng 450 km về phía bắc. Tại đây, hai nhóm người này đã thề trung thành với đạo và với ông. Họ cũng sẵn sàng đón tiếp những người bị bức hại ở Mecca và mời ông sang thành phố nơi họ cư trú. Sau hai cuộc hội thề này, nhiều tín đồ Islam ở Mecca dần dần trốn sang Yathrib. Thấy vậy, phe bảo thủ của tộc Qureysh lại nhóm họp và tìm ra một ý kiến mới: mỗi chi của tộc Qureysh sẽ cử ra một thanh niên, đứng canh trước cửa của nhà  Muhammad, chờ ông bước ra thì đồng loạt xông đến hạ sát ông, và như vậy những ai muốn báo thù cho ông sẽ không thể nào hướng sự trả thù đến tất cả các chi trong bộ tộc. Nhà tiên tri Muhammad đã thoát được cạm bẫy này. Ông cùng ông Abu Bakar trốn ra khỏi Mecca, và sau mấy tháng vừa đi vừa ẩn trú, họ đến được Yathrib.
Nhà tiên tri Muhammad tại  Yathrib đã được các tín đồ cũ mới đón tiếp nồng nhiệt và  trở thành lãnh tụ của đa số dân thành phố này, nơi mà thời gian sau được đổi tên là “Thành Phố của vị Sứ Giả”gọi tắt là Medina. Việc đầu tiên ông làm ở đây là khởi công xây một thánh đường đơn sơ và giảng đạo trước công chúng vào buổi trưa thứ sáu hàng tuần. Ông cũng quy định khi cầu nguyện, hãy hướng mặt về Ngôi Đền Thiêng ở Mecca. Những người rời bỏ Mecca ít nhất  186 gia đình và khoảng 1500 tín đồ được người tiếp trợ cho tá túc và giúp kế sinh nhai. Medina lúc bấy giờ có hai bộ lạc Ả Rập và một thiểu số Do Thái với ba bộ lạc chính. Các bộ lạc này vừa trải qua mấy năm chiến tranh với nhau. Nhà tiên tri Muhammad họp các bộ lạc ấy lại, soạn một bản hiến pháp, và định quy chế thành bang cho Medina. Bản hiến pháp này gồm có 47 điều khoản, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng châu Âu.
Nhà tiên tri Muhammad di cư từ Mecca đến Medina cùng với Abu Bakr năm 622. Năm này về sau (vào năm 638) được Umar lấy làm năm khởi đầu kỷ nguyên của cộng đồng Islam, gọi là kỷ nguyên Hijri (viết tắt là AH, Hijri nghĩa là Cuộc Di Cư), hay chính là năm đầu tiên của lịch Hồi giáo. Sau đó một thời gian, luật nhịn chay tháng Ramadan được ban ra, và được coi là một sự giảm nhẹ so với luật ban xuống thời trước (Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo nguyên thủy phải nhịn 40 ngày, thay vì 30 ngày). Luật Zakat (đóng góp an sinh xã hội, lấy từ 2,5% lợi tức đã trừ những chi tiêu căn bản), phân biệt với sự khuyến khích bố thí đã có từ trước, cũng được ban ra khoảng thời gian này.
Phe bảo thủ Mecca bằng mọi cách và thủ đoạn thuyết phục người Medina tuyệt giao với nhà tiên tri Muhammad và các tín đồ đến từ Mecca. Họ cũng liên lạc, bí mật hoặc công khai với các bộ lạc ở Medina và các vùng lân cận, để cấm vận kinh tế hay để có nội ứng cho cuộc tấn công về sau. Tín đồ Islam từ Mecca vẫn tiếp tục rải rác trốn đi Medina. Phe bảo thủ cũng cho người trà trộn trong những người này để hành thích ông, nhưng khi thích khách đến gần thì nhà tiên tri Muhammad  đã nói cho biết là thích khách và người chủ mưu ám sát ông đã nói riêng những lời gì với nhau, khiến thích khách hoảng sợ, thú nhận âm mưu và sau đó đã theo ông nhập đạo.
Năm 624 trận Badr là cuộc chiến đầu tiên giữa cộng đồng Islam ở Medina và phe bảo thủ Mecca xảy ra . Địa điểm ở cách Medina khoảng 100 km về phía nam. Quân Mecca đông hơn 900, quân Islam chỉ được 313 người, nhưng thắng trận. Phe Mecca tử trận khoảng 70 người, trong đó có ông Abu Jahil, một trong hai người chống đối quan trọng nhất. Ông Abu Lahab không đi đánh, nhưng hay tin bại trận thì tức tối thành bệnh mà chết một tuần sau. Đa số tù binh được đối xử tử tế, và được trả tự do đổi lấy tiền chuộc. Ai biết chữ thì phải dạy đọc dạy viết cho hai đứa trẻ ở Medina. Ai nghèo quá thì cũng được trả tự do mà không có điều kiện gì .
Năm 626,Trận núi Uhud xẫy ra khi phe bảo thủ Mecca phái đến 3000 quân thì nhà tiên tri Muhammad cũng có đến 1000 quân để ứng chiến. Trận này quân Mecca thắng, nhưng quân Medina giữ được các vị trí quan trọng, nên người Mecca phải rút về.
Năm 627, Trận Chiến Hào phe bảo thủ Mecca chuẩn bị trở lại với một đoàn quân đông hơn nữa. đoàn quân này khoảng một vạn đến hai vạn tư người tùy tài liệu do có  với một số lớn quân thuê từ các bộ lạc khác. Quân Islam có khoảng ba nghìn người. Nhà tiên tri Muhammad đã cho đào chiến hào để ngăn địch và ông cũng tham gia đào hào như mọi người.  Quân Mecca trong trân chiến hào bị thiệt hại nặng và buộc phải rút lui.
Năm 628, một thủ lĩnh lớn của miền đông theo Islam và cấm bán thực phẩm đi Mecca. Kinh tế của Mecca cũng gần kiệt quệ vì phí tổn tổ chức trận Chiến Hào, nên Mecca bị nạn đói đe dọa. Thánh Muhammad bèn ra lệnh xuất công quỹ giúp đỡ một số người nghèo túng ở Mecca, bán thực phẩm cho Mecca, và để cho người của phe bảo thủ Mecca tự do đi ngang qua vùng kiểm soát của Medina để buôn bán với Syria và Palestine. Sau một số cử chỉ tỏ thiện ý muốn hòa bình với Mecca, thánh Muhammad và 1.400 người hành hương về Mecca và không mang theo vũ khí. Hai bên ký hòa ước. Năm sau, cuộc hành hương của ông và những người đồng hành đến Mecca diễn ra tốt đẹp. Hai bên đều theo đúng điều đã giao kết tại Hudaybiya.
Nhà tiên tri Muhammad khi ở phương xa đến cầm quyền ở thành Yathrib và mang lại nhiều thay đổi năm 621, thì một số kẻ chống đối do bị mất quyền lợi và địa vị đã ngầm liên lạc với phe bảo thủ Mecca để làm nội ứng và tích cực khuyến khích một số bộ lạc xa gần chống lại chính quyền Islam. Trận Mouta chống quân Đông La Mã của Hoàng đế Đông La Mã là Heraclius tập trung lực lượng khá đông gần cửa ải vào bán đảo, nhà tiên tri Muhammad phái một đội quân 3.000 người đi ngăn địch. Quân hai bên giao chiến tại Mouta. Theo At-Tabari, quân Medina bại trận, nhưng cũng cầm cự được 3 ngày. Đông La Mã thấy muốn thắng Ả Rập cũng phải tổn thất nhiều, và họ còn cần giữ lực lượng để phòng Ba Tư phản công, nên không tiến quân vào bán đảo.
Năm 630 có bộ lạc Banu Bakr đồng minh của Mecca đánh nhau với bộ lạc Khuza’ah đồng minh của Medina. Phe bảo thủ Mecca giúp bộ lạc Banu Bakr. Thánh Muhammad coi là họ đã xé bỏ hòa ước Hudaibiya qua hành động đó, nên chuẩn bị hưng binh, nhưng giữ bí mật không nói là sắp đi đâu. Thủ lĩnh phe bảo thủ Mecca là ông Abu Sufyan lo ngại, đích thân đến Medina điều đình, nhưng bị giữ lại không cho về. Nhà tiên tri Muhammad đem 10.000 quân đến Mecca. Phe bảo thủ Mecca hoang mang vì năm trước hai tướng giỏi nhất của họ là Khalid bin Walid và Amr bin Al Ass đã bỏ đi Medina theo Islam. Nay lại không có thủ lĩnh Abu Sufyan quyết định, nên đa số ngồi im không kháng cự. Nhà tiên tri Muhammad đã dẹp yên lưc lượng chống đối ở Mecca và đưa Attab bin Asid, một nhân vật quan trọng của phe bảo thủ, nay theo Islam, được ông đặt làm thống đốc Mecca, và quy định lương bổng theo cơ chế chính quyền Medina. Khi vào xem kho tàng của đền Ka’aba từ nhiều năm được khách thập phương dâng cúng, người ta kiểm kê được hơn 55.000 lạng vàng. Nhà tiên tri Muhammad không chạm đến tiền này. Sau khi ở lại Mecca vài tuần sắp xếp các công việc, ông trở về Medina.
Năm thứ 9 của kỷ nguyên Hijri (tương đương với năm 631) được các sử gia Islam gọi là Năm của Các Phái Đoàn. Năm ấy có rất nhiều phái đoàn đến từ khắp nơi trên bán đảo Ả Rập tuyên bố bộ lạc họ theo Islam và xin nội thuộc vào lãnh thổ Medina. Nhà tiên tri Muhammad dành nhiều thời gian để tổ chức hệ thống hành chính, thuế khóa cho các vùng mới gia nhập. Ông nghiêm cấm gia đình và người trong họ lấy tiền công quỹ chi tiêu riêng. Năm thứ 10 Hijri rất nhiều trường học được lập ra trong khắp lãnh thổ, và đặc biệt là ở Yemen phía nam bán đảo.
Năm 631, Ba Tư ngày càng suy yếu, trong 3 năm ngôi hoàng đế qua tay ít nhất 5 người. Đông La Mã nhận thấy có thể yên tâm làm một cuộc viễn chinh vào Ả Rập. Được quân tế tác cho biết Đông La Mã chuẩn bị binh sĩ, nhà tiên tri Muhammad bèn kêu gọi thánh chiến. Ông quy tụ được một đạo quân đông 30.000 người cho chiến dịch Tabuk. Nhà tiên tri Muhammad và quân sĩ ra đến ải Tabuk, cách Medina khoảng 800 km về phía bắc. Đông La Mã thấy quân đối phương hùng hậu và kỷ luật, ngại nhiều tổn thất, nên không dám tấn công. Thánh Muhammad ở lại Tabuk ít lâu nhận định tình thế, rồi rút quân về.
Năm 632 nhà tiên tri Muhammad về Mecca hành hương lần cuối và có bài giảng ở Arafat. Ngày 9 tháng 12 âm lịch Ả Rập, theo nghi thức hành hương, các tín đồ quy tụ ở đất Arafat, ngoại ô Mecca, để cầu nguyện. Tùy tài liệu, Số tín đồ có mặt nghe giảng đông đả khoảng chín vạn đến mười bốn vạn người . Thánh Muhammad đứng trên một đỉnh núi con là núi Từ Bi (‘Ar-Rahman’). Mỗi khoảng cách xa xa có một người khỏe giọng lặp truyền lại từng câu ông nói để mọi người đều nghe rõ.
Ông nhắc lại những tín điều quan trọng, dặn dò mọi người hãy cố gắng theo lời truyền dạy của kinh Koran, và tuyên bố là sứ mạng truyền đạo Islam của ông nay đã hoàn tất.
Mặc dù là lãnh tụ của một quốc gia rộng lớn, nhưng thánh Muhammad vẫn sống giản dị, ở nhà cửa sơ sài. Ông không đòi hỏi sự phục dịch, tự tay xách nước giếng khi cần tắm rửa. Ông thường nhịn chay, và tránh trong một bữa ăn hai thứ thịt. Trong thời gian bà Khadija còn sống, ông chỉ một vợ một chồng. Sau khi bà Khadija qua đời khoảng một năm thì ông tục huyền với một góa phụ, và sau đó thành hôn với mấy người nữa, đều là góa phụ hay đã ly dị chồng, ngoại trừ cô Aisha con ông Abu Bakar, trong những tình huống đặc biệt.
Đầu năm 11 Hijri, sức khỏe ông kém hẵn. Vài lần thấy mình không đủ sức dẫn lễ cầu nguyện ngày 5 lần ở thánh đường, nên ông nhờ ông Abu Bakar dẫn lễ thay. Ông kiểm lại tài sản, có chút ít đất đai thì ông để lấy huê lợi cho gia đình, còn 7 đồng dinar thì bố thí cho người nghèo. Ông cũng còn thanh gươm trị giá mấy đồng tiền vàng gởi cho người rể út là Ali, và một chiếc áo giáp nằm ở một hiệu cầm đồ người Do Thái ở Medina.
Ông qua đời ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập, cũng là sinh nhật của ông. Đã có nhiều người có khuynh hướng thờ phụng ông như một vị thần linh khi ông còn sống, nên ông mới tuyên bố: Hỡi dân chúng ! Nếu ai tôn thờ Muhammad thì hãy biết rằng Muhammad đã chết. Còn ai tôn thờ Allah thì Allah vẫn hằng sống và không bao giờ chết !
Thi hài ông được an táng trong khuôn viên thánh đường gần nhà, nay gọi là thánh đường Al-Nabawy (Thánh Đường Thiên Sứ). Sau thánh đường mở rộng, phần mộ ông nay nằm trong toà đại điện.
ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC
Năm 620, nhà tiên tri Muhammad một hôm đã kể lại rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Kế đó, ông duy nhất chỉ nói đến Kinh Koran và Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi: 1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài; 2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. 3) Bố thí. 4) Nhịn chay tháng Ramadan. 5) Hành hương về Mecca.
Vua Solomon và sách khôn ngoan là tinh hoa trí tuệ Do Thái. Vua Solomon (khoảng năm 965-928 trước công nguyên) là vị quân vương xuất sắc của Vương quốc Israel thống nhất, ông là chính trị gia, nhà cầm binh lỗi lạc, đồng thời cũng là con người khôn ngoan và nhà hiền triết. Ông có một số lượng tài sản khổng lồ và được coi là người giàu nhất lịch sử nhân loại. Thời gian ông trị vì là thời gian cực thịnh của vương quốc Israel. Ông áp dụng chính sách đối ngoại kết thân với các nước láng giềng nhằm phát triển về kinh tế và thương nghiệp, về đối nội thì củng cố chế độ phong kiến tập quyền, tăng cường tổ chức và phát triển quân đội, cải cách hành chính. Ông đã cho xây nhiều đền đài và lăng tẩm là những công trình kiến trúc tuyệt mỹ, di sản nghệ thuật quý báu để lại cho đời sau.
Tôi thích thái độ triết học ngày nay của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama: trân trọng và lắng nghe. Nghiên cứu Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad là chúng ta đang đối thoại với một di sản văn hóa lớn của vùng Mecca, Trung Đôn,g Trung Á và Châu Phi, một tâm điểm của nền chính trị, văn hóa và tâm linh thế giới.