Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

 Cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô, gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến Kitô Giáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo (Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã (Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly dị để lấy vợ khác. 

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nêu sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi. 
I- Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã (Roman Catholicism) ra sao? 
Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp "orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng" (right-praise), "tin tưởng đúng " (right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó, họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính (sound doctrines) , tinh tuyền của Kitô Gíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy). Do đó, trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ "heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054, khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople (tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã (Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau (anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople, và Đức cố Giáo hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine... Vì thế, ở mỗi quốc gia này, cũng có Giáo Hội Chính Thống, nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện. Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã (Tây Phương).
Tuy nhiên, hiện nay, Thượng Phụ (Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết (Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương. Cách nay 2 năm Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã sang thăm Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương (The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên, vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất này, là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew), sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội Kitô Giáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy (Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây. 
1- Về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ “Filioque” (và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.
Giáo Hội Chính Thống Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận. 
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân (đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
2- Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phụng vụ, trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu. 
3- Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” (x.SGLGHCG, số 838).
II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo
Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh Kitô Giáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli, và các nước Bắc Âu sau đó. 
1- Ở góc độ thần học, 
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura). Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí cộng tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: “không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa, là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi, sẽ ra vô ích.
Anh em Tin Lành không chia sẻ quan điểm thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng kinh thánh, nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và không công nhận một bí tích nào khác. Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng Kinh Thánh. Sứ vụ quan trọng của họ, chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh (Sola Scriptura) mà thôi.
2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó, Chúa Giêsu dạy các tông đồ “không được gọi ai dưới đất là cha là thầy vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời” mà thôi. Vì họ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning), nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là ‘lạc giáo=heretical” vì đã cho gọi Linh mục là “Cha” (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng: “Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn.” (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia, Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người, thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy.” (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ “anh chị em “trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bính, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế
3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Xức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm này chỉ có phép rửa (Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự (invalidly). Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng (catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi. 
Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. 

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2025

TÓM TẮT CÁC GIÁO PHÁI TÁCH KHỎI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

 TÓM TẮT CÁC GIÁO PHÁI TÁCH KHỎI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (*)


Luther không thích Giáo Hội Công Giáo, ông phản đối và từ đó Giáo Hội Luther ra đời.

Calvin không đồng ý với Giáo Hội Luther nên lập nên Giáo Hội Cải Cách hay còn gọi là Giáo Hội Calvin.

Vua Henry VIII không bằng lòng khi bị từ chối việc kết hôn trong Giáo Hội Công Giáo, nên đã lập ra Anh Giáo (Anglican Church).

John Smith không thích Anh Giáo nên sáng lập ra Giáo Hội Baptist.

William Miller không thích Giáo Hội Baptist và lập ra Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm (Adventist).

Ellen White rất thích những gì William Miller giảng dạy và lập nên Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy (Seventh-day Adventist Church).

Charles T. Russell không đồng ý với Giáo Hội Phục Lâm nên lập ra Nhân Chứng Giêhôva (Jehovah’s Witnesses).

Joseph Smith không đồng ý với Giáo Hội Methodist nên lập ra Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau (Mormons).

John Wesley không đồng ý với Anh Giáo nên lập ra Giáo Hội Methodist.

Một số mục sư không thích Giáo Hội Methodist và lập ra các Giáo Hội Ngũ Tuần (Pentecostal).

Rồi nhiều người lại không thích Giáo Hội Ngũ Tuần, nên sinh ra hàng ngàn “giáo phái” mới – nào là “Hội Thánh Làm Sao Để Hết Đau Khổ”,
“Hội Thánh Tin Lành Truyền Giáo”,
“Hội Thánh Thịnh Vượng”,
“Hội Thánh Giàu Có Địa Trần” v.v…

Phiên bản này tôi đã xem trên youtube, cám ơn cha Joseph Vu đã dịch!

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2025

Dân Chúng Không Còn Tôn Trọng Đạo Chúa

  

1. Đền Thờ Thánh Phêrô Bị "Xúc Phạm!"

Trang Facebook Công Giáo Việt Nam ghi:

Một sự cố đáng tiếc vừa đã xảy ra hôm nay tại Vatican, khi bàn thờ chính của Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô một lần nữa bị xúc phạm và khủng bố bằng bạo lực. Một người đàn ông đã xúc phạm trèo lên bàn thờ, đá đổ nến bàn thờ, thánh giá và gây náo loạn tại một trong những địa điểm linh thiêng nhất của Kitô Giáo. Lực lượng an ninh đã nhanh chóng can thiệp để đưa người đó ra ngoài, nhưng hành động gây sốc này đã làm dấy lên mối lo ngại về tần suất ngày càng tăng của những sự cố như vậy tại Vatican.

Các thế lực bóng tối thù địch dường như có ý định tấn công Giáo hội hơn bao giờ hết, hướng cơn thịnh nộ của chúng vào những vật thể linh thiêng nhất trong nơi thờ kính của chúng ta — đặc biệt là bàn thờ và nhà tạm. Những cuộc tấn công như vậy không chỉ là hành động phá hoại mà còn là dấu hiệu của một cuộc chiến sâu sắc hơn, chống lại sự linh thiêng của Giáo Hội Công Giáo khắp nơi.

Trong những thời điểm như thế này, các tín hữu Công Giáo được kêu gọi cầu nguyện, cảnh giác và tin tưởng không lay chuyển vào tình yêu của Chúa Kitô, người đã hứa rằng các cổng địa ngục sẽ không thắng thế trước Giáo hội của Người. Xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện và hãy tin tưởng vào Giáo Hội của chúng ta đã đứng vững hơn 2000 năm qua mà không kẻ thù nào thắng nổi. Thiên Chúa vẫn đang đồng hành và Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta."

Một góc quay một người tấn công lên bàn thờ bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô theo EWTN và CNA... Trong video cho thấy người ấy đạp đổ 6 chân nến và kéo khăn bàn thờ nhưng rất nhanh sau đó bị An ninh Đền thờ bắt lại... 

Công Giáo Việt Nam

Nguồn Trang Công Giáo Việt Nam, video 1 ngày 7 và, video 2 ngày 9 tháng 2, 2025

 

2. Linh mục ở Winnipeg thoát chết trong gang tấc khi bị đâm trong lúc làm lễ

Một linh mục ở Winnipeg đã may mắn thoát khỏi ngọn dao đâm trong khi làm thánh lễ Chủ Nhật. Toàn bộ sự việc đã được camera ghi lại. Danton Unger đưa tin.

Nguồn: (CTV News: https://www.youtube.com/watch?v=nQx5P3TZlhc)

 

3. Bất Ngờ Giáo Dân Phản Đối Dữ Dội Tại Trại Gáo, Giáo Phận Vinh

 

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2025

BÌNH AN TRONG TÂM HỒN! Trường Công Giáo và Chuyện Tự Nguyện Cải Đạo? (author: Lý Thái Xuân)

 Hôm nay điện thoại nói chuyện với một người bạn già, quen từ lúc sang Mỹ đến giờ. Bà này vốn không phải đạo dòng, nhưng gia đình bà đã cho bà theo học ở trường Trung học Nguyễn Bá Tòng, một trường Công Gíao La Mã, điều bà thỉnh thoảng đem ra kể với một niềm "hãnh diện". Do đó, dù lập gia đình với một người lương thuộc lớp trí thức, và sống trên đất Mỹ, bà cuối cùng cũng tự quyết định rửa tội và cải đạo theo Chúa.

Ông xã của bà cũng tôn trọng niềm tin của bà. Dù không cải đạo theo bà, không đi nhà thờ với bà mỗi chủ nhật, nhưng thỉnh thoảng ông cũng chìu bà đi lễ Noel! Điều này làm cho bà vô cùng hạnh phúc.

Tôi gọi bà để tán gẩu về vụ một nhà hoạt động trẻ Charlie Kirk của nhóm bảo thủ, vừa mới bị bắn đang lúc diễn thuyết ít ngày hôm trước. Dường như bà không muốn bày tỏ thái độ trong vụ này cho lắm, chỉ nói đến 2 đứa con còn lại của anh ta, và sự giàu có của gia đình nhân vật này. Thấy vậy tôi vội hỏi thăm sức khỏe, bà vẫn giữ thói quen đi bộ, và nhân tiện khoe thêm rằng bà đi bộ đến nhà thờ mỗi ngày. Nhớ lại tôi đã bỏ đi đạo, và cùng ông xã tôi vạch tội Thiên Chúa giáo La Mã trên quê hương Việt Nam, bà thêm:

- "Khi tôi đã tìm được một nơi đem đến cho tôi sự thanh thản tâm hồn, thì tôi cứ thế mà theo!"

Tôi đáp: "Thì vậy chứ sao?" Trong bụng tôi nghĩ, trình độ tư duy của bà bị giới hạn bởi những năm đi học ở trường CG, tôi không thể đem ra bình luận với bà những sự vô lý, những chuyện hoang đường, những tội ác của những người đi "mở mang nước Chúa" những việc đạo đức giả, những trò lừa gạt đầy mê tín như Đức Mẹ Fatima, "Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Mẹ đã vào Nam," "Trái tim Mẹ sẽ thắng”, v v… để ngầm cổ vũ chính trị, cả đến chiến tranh...

Những người như bà không cần biết đến những chuyện ấy. Cho nên nếu kể ra thì bà sẽ gạt ngang:

"Tôi không suy nghĩ gì xa vời cả. Tôi rất đơn giản. Đi nhà thờ là tôi tìm thấy hạnh phúc yên vui trong tâm hồn. Thế thôi!"

Mà phải chi bà ít học thì không nói chi. Bà ít nhất cũng đã tốt nghiệp đại học cả bên Việt nam, và bên Mỹ. Làm việc kiểm toán, hạng chuyên nghiệp cơ mà! Nhưng những người không cần biết đến quyền lợi của đất nước, không cần biết đến giá trị nào cao hơn là quyền lợi cá nhân, thì làm sao trao đổi những vấn đề sâu sắc hơn?

Những nhà chiến lược tâm linh của Giáo hội La mã đã nắm biết hết các tác dụng tâm lý của kế sách nhồi sọ của họ. Trường Công giáo là nơi họ thả ra các chiêu bài trong chiến lược "thả lưới" bắt linh hồn của họ.

Chiêu bài "an vui, bình yên, thánh thiện,.." tạo thành những lối mòn suy tư cho những học sinh của trường Công giáo La mã. Một khi đã bước vào lối mòn ấy, họ quen chân, quen cảnh,... và tất cả bao vây họ thành hàng rào kiên cố. Họ không thể vượt qua, và không muốn vượt qua.

Đó là lý do mà người ta thấy có các "trí thức" vẫn đi trên con đường u mê đó một cách thong thả, có khi cao ngạo nữa là khác!!! Và chúng ta, có viết hàng nghìn trang giấy kể tội Giáo hội của họ, họ vẫn bình chân như vại. Than ôi, đó là một sự thật đáng ghét!

Hôm nay tôi đã nhìn thấy như thế qua cuộc điện thoại thăm hỏi người bạn xưa, làm tôi như nuốt phải hạt thị. Nghẹn ngào, và ngao ngán!

Vấn đề quan trọng ở đây là bà bạn trước đây ở Việt Nam đã từng được đi học ở trường Công Giáo Rô Ma.

Những người chưa theo học trường Công giáo, dù bị nhồi sọ thường xuyên qua việc đi đạo, họ còn có hy vọng thoát ra nếu gặp thuận duyên. Chính cá nhân người viết tôi là một trường hợp.

Trái lại, những người đã đi học trường Công giáo thì dù họ thuộc gia đình trí thức, hoặc bên lương, giàu có, thì lại đâm đầu trở vào tình nguyện làm chiên lúc không có bất cứ một điều kiện áp lực nào.

Một thí dụ điển hình mà ai cũng biết, là ông Vũ Đình Tiệm, một Công giáo Tỉnh ngộ thường lên chia sẻ kinh nghiệm trên kênh Trần Ly Official. . Nhưng ông là người giáo dân nhiệt thành nhất xóm đạo. Ông làm chức "trùm" lo việc hướng dẫn đọc kinh nguyện trong nhà thờ giáo xứ Đồng Liêu. Ông đóng góp vừa công vừa của từ lúc còn ở Việt Nam cho đến lúc sang định cư bên Pháp, vẫn còn gửi về giúp tiền xây "tòa Chúa". Nhà thờ đã phải khắc tên ông, một cái tên duy nhất, vào hàng cột chính bên cung thánh.

Ông không học nhiều, có lẽ chỉ mới biết viết ra chữ là thôi. Do đó, ông không được đi học Trường Công Giáo.

Trong đầu óc bị nhồi sọ của ông Tiệm, ông chỉ nghĩ rằng người Pháp sẽ kính trọng Thiên Chúa hơn người Việt Nam. Khi sang ở trong lòng nước Pháp, thì ông bắt đầu ngả ngữa. Điều đó chưa đủ để có ý nghĩ gì từ bỏ đi đạo, nhưng làm cho ông bắt đầu quan sát thêm.

Gia đình ông vẫn tham gia những hoạt động tôn giáo, như đi hành hương Rô ma, và những việc khác. Gia đình ông vẫn luôn có nhiều lễ lạc, tiếp xúc, đối đãi các "cha" nhiều hơn mọi người. Và ông đã nhìn thấy những việc "gian dối" của các giáo dân khác, của các giáo sĩ, hay các chức sắc. Họ xem hai vợ chồng ông và gia đình ông là những con cừu thực sự, để họ vặt lông.

Những chi tiết bất bình và hoài nghi như thế được nối tiếp theo sau những ngạc nhiên về niềm tin lỏng lẻo nơi xứ Pháp, nơi mà đối với ông, là cái gương của đạo Chúa, nơi được Giáo hội gọi là trưởng nữ của Hội Thánh... Dần dần sự bất bình đứng lên dẫn ông bước ra khỏi cửa nhà thờ, và ông đã thuyết phục được cả bà vợ, quyết liệt với quyết định dứt khoát của mình.

Những dòng chú thích dưới tấm ảnh là của ông Vũ Đình Tiệm ghi sau khi quyết định từ bỏ đạo Chúa gian dối..

Trong lúc đó, những người lớn lên trong sự giáo dục của Trường Công giáo thì khác hẳn, nếu họ không thuộc về những đứa trẻ bị lạm dụng. Trường Công giáo đã tạo cho con trẻ những "kỷ niệm" khó quên trong tuổi thơ. Nơi đó, sự nhồi sọ lại là những âm thanh quen thuộc, những hình ảnh dễ thương. Đó là những chất keo sơn, gắn kết những cựu học sinh dính vào họ, cho dù cựu học sinh trở thành trí thức hay không vẫn không có liên quan đến "kỷ niệm đẹp". Vâng, con người sống với kỷ niệm đẹp, điều đó không phải là công việc của lý trí.

Mong rằng sự quan sát trong kinh nghiệm này sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu chung về những người trí thức vẫn đi đạo dù có rất nhiều những lên tiếng khoa học tố cáo sự hoang đường, thấp kém của những niềm tin trong đạo Chúa.

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2025

Vấn Đề Chứng Minh Thượng Đế

 Có một nguyên tắc rất phổ biến rằng, không ai có thể chứng minh được một điều phủ định. Chẳng hạn, việc chứng minh Thượng Đế không hiện hữu là một việc làm vô phương. Bởi vì chúng ta đang ở trong một hành tinh rất bé nhỏ và có giới hạn trong vũ trụ vô biên, nên không thể nào chúng ta có thể kiểm chứng được toàn cõi vũ trụ này để có thể kết luận được rằng Thượng Đế không hiện hữu.

Thực ra, chính nguyên tắc này tự nó lại mâu thuẩn với chính nó. Khi khẳng định “không ai có thể chứng minh một phủ định” thì lại chính nó đang là một chứng minh phủ định nhưng chưa hề có kiểm chứng. Có nghĩa là không ai có thể chứng minh được nguyên tắc này hiển nhiên đúng; do đó, người ta có đủ lý do để tin tưởng rằng việc chứng minh một phủ định không phải là điều vô phương.

Có rất nhiều thứ mà người ta cần phải tưởng tượng ra sự hiện hữu của chúng như là những hữu thể có thật để giải thích những hiện tượng dị thường trong vũ trụ. Nhưng với thời gian và những khám phá mới, người ta loại bỏ dần những hữu thể đó và không bao giờ còn phải sử dụng đến chúng trong những giải thích khác.

Thực vậy, thí dụ, khoa học đã chứng minh cho chúng ta biết những hữu thể tưởng tượng như “phlogiston”, “ether”, và hành tinh “Vulcan” không bao giờ hiện hữu như những thực thể. Đã có một thời gian dài người ta phải đưa vào các định đề khoa học những hữu thể tưởng tượng như “phlogiston” để giải thích hơi nóng, “ether” để giải thích sự di chuyển của ánh sáng trong chân không, và hành tinh “Vulcan” để giải thích những xáo trộn trong quỉ đạo của hành tinh Mercury. Ngày nay, những thứ đó không còn cần thiết nữa để giải thích bất cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ. Chúng đã lần lượt đi vào quên lãng vì không phải là những thực thể có thực.

Cũng vậy, Thượng Đế là một ý niệm tưởng tượng được đưa ra để giải thích những gì mà con người chưa biết tường tận. Người ta đã dùng ý niệm này để khỏa lấp mọi khoảng trống của kiến thức con người. Ngày xưa, người ta mang Thượng Đế để giải thích mưa bão, động đất, núi lửa, sóng thần, v/v… Và ngày nay, không ai còn phải mang Thượng Đế để giải thích những hiện tượng như vậy. Những khẳng định của khoa học thực nghiệm không bao giờ mang một ý nghĩa tuyệt đối như trong luận lý học thuần lý, nhưng thường là rất khả tín, nằm bên ngoài sự nghi nghờ có lý lẽ (beyond reasonable doubt). Nếu chúng ta đòi hỏi tính tuyệt đối trong những khẳng định của khoa học thực nghiệm thì chúng ta không thể tin được bất cứ điều gì của khoa học.

Chẳng có nhà vô thần nào bỏ công đi tìm bằng chứng cố gắng chứng minh một phủ định về Thượng Đế, bởi vì họ đều biết rõ ràng về nguyên tắc ai là người phải trưng bằng chứng (burden of proof). Nguyên tắc này sẽ dẫn đến một kết luận ngụy biện, sai lầm khi đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên.

Để dễ hiểu hơn, chúng ta chỉ cần đưa ra một nguyên tắc căn bản trong luật học, rằng một người được xem là vô tội cho tới khi được chứng minh là có tội. Vậy trách nhiệm chứng minh nằm ở luật sư công tố, không phải nơi bị can. Nếu luật sư công tố không chứng minh được bị can phạm tội thì bị can không cần phải chứng minh rằng mình không có tội mà vẫn vô tội. Trong một cuộc tranh luận, bên có trách nhiệm trưng bằng chứng là bên tuyên bố một vật gì hiện hữu, chẳng hạn như có Thượng Đế, có ma quỉ, có người hành tinh, có ông già Noel, hoặc có những quyền lực siêu nhiên. Nếu người hữu thần không thể chứng minh có Thượng Đế bằng những bằng chứng hẳn hoi thì phải kết luận là không có Thượng Đế, thế là xong; người vô thần không cần phải chứng minh một điều gì khác. Khi người hữu thần đòi hỏi người vô thần phải trưng bằng chứng chứng minh không có Thượng Đế là họ đang sử dụng ngụy biện “burden of proof” để hòng đi đến kết luận là có một Thượng Đế hiện hữu; dĩ nhiên nếu người vô thần không chứng minh được, vì họ dư biết rằng sẽ là rất khó chứng minh hơn cho một phủ định. Lối lý luận như vậy rõ ràng đã đi đến một kết luận sai lầm, ngụy biện vì đã đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên.

Điều các nhà khoa học muốn chứng minh là không cần phải mang Thượng Đế ra để giải thích bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ như các nhà hữu thần đang làm, và đó chính là công việc của các nhà khoa học. Mang Thượng Đế ra để giải thích chỉ đơn giản là cái cớ để từ chối giải thích, vì phải xây dựng thêm một giả định mới, phức tạp và còn khó giải thích hơn điều đang cố gắng giải thích. Đó là lối giải thích thụt lùi, làm điều muốn giải thích rắc rối và tối tăm thêm.

Những giải thích của các nhà khoa học dựa trên những quan sát và các dữ kiện thâu thập được luôn luôn là những giải thích khả tín hơn cả. Loại trừ Thượng Đế để cố gắng đi tìm những nguyên nhân tự nhiên thì cũng giống như việc các nhà khoa học đã từng làm để loại trừ “phlogiston” trong việc giải thích hơi nóng, “ether” trong việc giải thích sự di chuyển của ánh sáng trong chân không, và hành tinh Vulcan trong việc giải thích những xáo trộn trong quỉ đạo của hành tinh Mercury. Những hữu thể tưởng tượng đó đương nhiên đều là những thứ phi vật chất, cũng hoàn toàn giống như ý niệm Thượng Đế, vì chúng không phải là những thực thể có thực.

Khi tôi đưa bài dịch “Hai Lối Chứng Minh Không Có Thượng Đế” của Quentin Smith vào các diễn đàn thì đã có một số ý kiến cho rằng: “Đối tượng của khoa học là vật chất, mà vật chất là những gì có thể cân đo đong đếm. Thượng Đế đâu có phải là vật chất. Khi được hỏi có Thượng Đế hay không thì nhà khoa học chân chính sẽ trả lời. Tôi không thể trả lời được vì Thượng Đế không phải là đối tượng nghiên cứu của tôi. Ngài là phi vật chất. Người ta không thể chứng minh có TĐ hay không, mà chỉ là cảm nhận” (van hanh phung). Đó cũng là ý kiến chung của nhiều đọc giả, kể cả những quí vị có học vị cao như tiến sĩ, giáo sư, kỹ sư, hay bác sĩ.

Có lẽ cái tựa của bài viết đã làm nhiều người hiểu lầm nếu không đọc kỹ toàn bài. Rõ ràng ở phần kết luận, Smith đã viết:

“Để kết luận, tôi xin khẳng định rằng, thứ nhất khoa học hiện nay không chấp nhận có Thượng Đế hiện hữu. Và thứ hai, lý luận thông thường mà chúng ta sử dụng hằng ngày khi áp dụng vào mọi sự dữ chúng ta trông thấy cũng tự nó không chấp nhận có Thượng Đế. Do đó, tôi nghĩ quan điểm hữu thần rất là vô lý, còn quan điểm vô thần thì hữu lý hơn.”

Và hơn nữa, ngay khi mới vào đề, Smith cũng đã thẳng thừng tuyên bố rõ ràng rằng ông muốn phản bác những lập luận của những nhà hữu thần có kiến thức khoa học đã từng sử dụng thuyết Big Bang để cố chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Điều còn rõ ràng hơn nữa là tất cả các luận chứng của các nhà hữu thần trong suốt tiến trình lịch sử đã thất bại trong việc chứng minh có Thượng Đế. Thuyết Big Bang là cái phao cuối cùng để cho những nhà hữu thần bám víu, bởi vì thuyết này đã bị khựng lại ở một điểm dị thường (singularity), ở đó tất cả mọi sự đều biến mất, và người ta đã đi đến kết luận rằng đó là cái điểm bắt đầu của vũ trụ phải cần có một tác nhân kích hoạt làm vũ trụ khởi động. Chính đó là Thượng Đế toàn năng đã hiện hữu trước khi vũ trụ được thành hình. Như vậy, thuyết này hoàn toàn đối nghịch với câu chuyện tạo dựng trong kinh Sáng Thế Ký, nhưng ít ra cũng còn vớt vát ở điều cần thiết phải có một đấng Sáng Tạo như là nguyên nhân đầu tiên.

Smith dùng hàm số sóng của các nhà khoa học hiện đại để phản biện lại lối lập luận như vậy, vì hàm số này cho xác quyết có một xác suất 95% vũ trụ có thể tự tạo, không cần phải có một ai đó khởi động lúc ban đầu. Mãi gần 15 năm sau, khi xuất bản cuốn Sự Thiết Kế Lớn / The Grand Design, tác giả Stephen W Hawking mới xác nhận quan điểm của Smith nhờ những dữ kiện ông thu thập được khi quan sát. Như vậy, ở điểm này, triết học đã đi trước khoa học. Khoa học chỉ làm công việc kiểm chứng những suy tư của triết học.

Khoa học nào cũng vậy. Ban đầu chỉ là giả thuyết. Nếu những dữ kiện thu thập trái nghịch với giả thuyết thì người ta sẽ điều chỉnh giả thuyết sao cho phù hợp, hoặc có khi phải từ bỏ vĩnh viễn giả thuyết đó. Khoa học không thể đi nghịch với các dữ kiện thâu thập. Cũng như thuyết tiến hóa, ban đầu nó chỉ là một giả thuyết, nhưng càng ngày càng nhiều khám phá mới của các ngành khoa học khác nhau đã xác nhận giả thuyết này. Ngày nay, tiến hóa đã trở thành sự kiện, và người ta đã có thể chứng minh được ở lĩnh vực vi mô. Có bàn cãi về tiến hóa thì chỉ là bàn cãi về cơ chế tiến hóa như thế nào. Và thuyết tiến hóa đã hoàn toàn thay thế thuyết sáng tạo ở trong các bộ môn khoa học. Chính giáo hoàng John Paul II cũng đã công khai công nhận thuyết tiến hóa, cho dù Vatican đã chi phí rất nhiều tiền bạc và công sức để cố gắng phản bác thuyết khoa học này hơn 100 năm qua.

Như vậy, thuyết Big Bang là một giả thuyết khoa học được các nhà hữu thần, không phải các nhà vô thần, sử dụng trong suốt mấy thập niên qua để cố gắng chứng minh sự cần thiết phải có một Thượng Đế. Chúng ta dèm pha thuyết này, phỉ báng và mạ lị các nhà khoa học, thực ra là chúng ta đang mạ lị và phỉ báng những nhà hữu thần mà chúng ta đang cố gắng bênh vực. Quentin Smith và Stephen W Hawking dùng hàm số sóng chỉ để chứng minh cho chúng ta biết một điều, rằng việc các nhà hữu thần mang thuyết Big Bang ra để gán cho Thượng Đế như là nguyên nhân đầu tiên khởi động vũ trụ đã trở thành thừa thãi, không còn cần thiết nữa. Vũ trụ có thể tự sinh. Đó là một khám phá mới của khoa học để trả lời cho câu hỏi từ ngàn xưa: vũ trụ đến từ đâu?

Khi các nhà khoa học dùng vũ trụ học để bàn về Thượng Đế, chính là họ chỉ muốn bàn về Thượng Đế của các nhà khoa học như là nguyên nhân khởi đầu của vũ trụ, không phải là Thượng Đế hữu ngã, có nhân tính của Thiên Chúa giáo. Thượng Đế của Thiên Chúa giáo được gọi là Thiên Chúa và là một hữu thể toàn năng, toàn thiện, toàn trí, công bình vô cùng, hay thương xót, và thường can thiệp vào công việc của loài người. Chỉ cần đơn giản dùng lý luận thuần lý của Parmenides, một triết gia cổ Hy lạp, cũng đủ đánh đổ ý niệm Thiên Chúa, bởi vì không thể có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì có những thuộc tính mâu thuẩn loại trừ nhau. Epicurus lý luận như sau từ mấy ngàn năm trước:

● Có phải Thiên Chúa muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không thể? Vậy thì Ngài không phải toàn năng.

● Có phải Ngài có thể ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không muốn? Vậy thì Ngài độc ác.

● Có phải Ngài có thể và cũng muốn ngăn ngừa sự dữ? Vậy tại sao lại có sự dữ?

● Phải chăng Ngài không có thể và cũng không muốn ngăn ngừa sự dữ? Vậy thì tại sao lại gọi Ngài là Thiên Chúa?

Và Quentin Smith, một triết gia, cũng đã dùng lối lý luận thuần lý này, điều mà ông gọi là lối lý luận trong đời sống hằng ngày, để loại trừ ý niệm Thượng Đế của Thiên Chúa giáo khi ông bàn về vô vàn sự dữ.

Tóm lại, khoa vũ trụ học, một bộ môn thuộc khoa học thực nghiệm, chỉ có thể đi đến kết luận rằng không cần phải mang Thượng Đế để gán cho một nguyên nhân đầu tiên làm vũ trụ khởi động. Thượng Đế ngày nay đã trở thành thứ thừa thãi trong tất cả mọi giải thích của khoa vũ trụ học. Mọi hiện tượng trong trời đất đều có những nguyên nhân tự nhiên. Vai trò của Thượng Đế cũng giống như những hữu thể tưởng tượng “phlogiston”, “ether”, và hành tinh “Vulcan” một thời cần thiết để giải thích những gì khi khoa học chưa giải thích được.

Và Thiên Chúa của Thiên Chúa giáo thì tuyệt đối không thể hiện hữu, bởi vì luận lý học không chấp nhận một hữu thể có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Ý niệm Thiên Chúa cũng vô lý giống như một hình tròn nhưng lại có những góc cạnh vuông, hay con kỳ lân màu tím nhưng lại vô hình. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa giáo dạy chúng ta cần phải có một đức tin mới có thể tin được những điều vô lý.

Còn việc “cảm nhận Thượng Đế” theo nghĩa thông thường, đại chúng, như ông Trời, Đạo… thì hoàn toàn có tính chủ quan, rất là con người. Giống như khi chúng ta đi trong đêm tối, có người cảm thấy như có ma đang theo dõi mọi cử động của họ, có người lại không cảm nhận được điều đó. Và khi họ nói cho chúng ta biết về ma, mỗi người sẽ nói mỗi cách khác nhau, nhiều khi còn mâu thuẩn với nhau. Tâm lý học về ý thức, vô thức, hay tiềm thức có thể giải thích được những điều này. Ngày nay, có rất nhiều người không còn tìm Thượng Đế trong các giáo điều tôn giáo, nhưng tìm Thượng Đế ở tại con tim hay tại lương tâm của mình. Đó là ý niệm về Thượng Đế nội tại thường có trong những thực hành thiền hay yoga.

 

 

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

Vài Thủ Thuật Giữ Số Đông Cho Nhà Thờ

 Kitô giáo đã rèn luyện tín đồ của mình từ bỏ khả năng tư duy phản biện và nhìn nhận mọi sự kiện như một sự khẳng định cho niềm tin của họ. Đây là một hình thức kiểm soát tâm trí, và hầu hết các tín đồ không nhận ra rằng họ đã bị mắc kẹt trong cơ chế này.


- Cầu nguyện và đạt được điều bạn mong muốn? Chúa đã đáp lời bạn. Hãy ca ngợi Chúa Jesus !
- Không đạt được điều đó? Ngài có kế hoạch khác cho bạn. Hãy ca ngợi Chúa Jesus !
- Không tìm được câu trả lời? Bạn không cần phải hiểu. Hãy ca ngợi Chúa Jesus!
- Tìm ra câu trả lời? Ngài đã chọn bạn. Hãy ca ngợi Chúa Jesus!
- Đau buồn vì mất người thân? Họ đang ở một nơi tốt đẹp hơn. Hãy ca ngợi Chúa Jesus!
- Buồn bã vì cuộc sống khó khăn? Bạn sẽ hạnh phúc sau khi rời khỏi trần thế. Hãy ca ngợi Chúa Jesus !

Thực sự, khi mọi câu hỏi đều được trả lời bằng điều khiến bạn cảm thấy dễ chịu nhất, được an ủi nhất, và ít phải sử dụng trí tuệ của mình nhất, điều đó chẳng phải là một dấu hiệu cảnh báo rõ ràng rằng bạn đang thiếu đi sự khách quan sao ? Những quan sát này không phải là những nhận định sâu sắc, thông minh hay đặc biệt mới mẻ, và tôi cũng không phải là người đầu tiên đề cập đến chúng. Nhưng với tư cách là một người sống hơn nửa đời người, từ bỏ và có kiến thức về Kitô giáo, thì việc tranh luận với các người biện hộ Kitô giáo có lẽ là ngây thơ, và dường như không thực sự cần thiết khi những tiền đề cơ bản nhất của niềm tin tôn giáo đã đầy rẫy những mâu thuẫn không thể dung hòa. Những mâu thuẫn này giải thích tại sao việc truyền bá tôn giáo phải bắt đầu từ khi còn rất nhỏ, và đáng buồn thay, chúng cũng giải thích tại sao thế giới lại rơi vào tình trạng đáng tiếc như hiện nay: bởi chúng khiến con người trở nên thành thạo trong việc hợp lý hóa những điều phi lý, tin vào những điều khó xảy ra, và biện minh cho những hành vi trái đạo đức.

Như Sam Harris từng nói, điều này giống như chơi quần vợt mà không có lưới. Nó giải thích tại sao các tín đồ Kitô giáo thường trở nên sùng đạo hơn sau khi trải qua thiên tai hay bệnh tật nghiêm trọng – họ đã được rèn luyện để nhìn mọi thứ, dù tốt hay xấu đều dẫn đến sự hoàn thành niềm tin của họ. Đây là một công cụ cực kỳ hiệu quả để Nhà thờ duy trì đám đông tín đồ như những chú cừu không tư duy, biết rằng dù không có hàng rào, họ cũng sẽ không lạc lối.


https://www.youtube.com/watch?v=O8a4EFqM-D8

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Chúa Ơi Là Chúa!!! Lễ Vượt Qua - Hãy Bỏ Qua Thiên Chúa

 Cuối tuần này, người Do Thái khắp thế giới sẽ kỷ niệm Lễ Bỏ Qua (mà người TCG Việt Nam đã dịch một cách rất xàm xí và tráo trở là "Lễ Vượt Qua" với ý nghĩa vượt qua Biển Đỏ), có nguồn gốc từ câu chuyện Thiên Chúa "bỏ qua" những căn nhà của các tổ tiên xa xôi của người Do Thái trên đường ông ta đi giết hại những đứa con trai đầu lòng của những người Ai Cập xấu xa. Chuyện kể rằng các tổ tiên Do Thái của chúng tôi đã đánh dấu trên cửa nhà với máu chiên cừu để tránh cho con trai của họ khỏi số phận thê lương như của kẻ thù.


Trong bối cảnh chiến tranh và bạo lực, áp bức và khổ đau ngày nay, tôi đề nghị chúng ta hãy bỏ qua một thứ khác:
Đó là Thiên Chúa.

Có hai điều về câu chuyện cổ tích này mà tôi đã luôn cảm thấy bức xúc kể từ khi được dạy ở trường đạo Do Thái chính thống ở Monsey, New York. Lúc ấy, tôi mới 8 tuổi, và khi ngày kỷ niệm sắp đến, rabbi (thầy đạo) bảo chúng tôi mở cuốn Kinh thánh (tức Cựu ước, vì người Do Thái không xài Tân ước), sách Xuất hành. Để chúng tôi cảm thấy hứng khởi cho ngày lễ, ông kể chúng tôi nghe những câu chuyện khủng khiếp về tra tấn, xử tử. "Bọn Ai Cập" ông nói, "đã sử dụng xác của người Do Thái để xây nhà."

"Ý thầy là họ bắt dân Do Thái xây nhà cho họ phải không ạ? Và họ chết khi làm việc?" tôi hỏi.

"Không", thầy đạo đáp. "Chúng bỏ xác người Do Thái vào giữa những bức tường, dùng xác người làm gạch."

Bố tôi hồi đó làm thầu xây dựng, và tôi hiểu ngay rằng như thế chẳng đúng với quy tắc thi công gì cả, bán được cái nhà đó đi lại càng không thể. Ví dụ một cặp vợ chồng nào đó muốn mua sẽ hỏi "Phải cái này là gạch không thế?" còn anh môi giới bán nhà sẽ bảo "Không, không phải. Đấy là xác chết". Bạn tưởng tượng nổi không?

Nhưng điều thứ hai còn kinh khủng khiếp hơn nữa, là những trận thiên tai địch họa.

Thầy đạo kể Thiên Chúa đã đánh phạt toàn thể dân Ai Cập, không chỉ Pharaoh và quân lính của ông ta. Dân Ai Cập từ trẻ đến già, vô tội hay có tội, đều phải gánh chịu nạn châu chấu và ếch nhái, mưa đá và tối tăm, những con thú dữ xổng chuồng còn nước thì biến thành máu. Thầy còn nói những bà mẹ đang cho con bú cũng thấy sữa biến thành máu.

"Ôi má ơi" cả lớp tôi rú lên.

Thế mà Pharaoh vẫn không chịu từ bỏ nô lệ của mình. Đúng ra thì đó là do Chúa, vì Chúa đã "làm Pharaoh cứng lòng" nhưng khi đó tôi còn bé và chỉ bắt đầu suy nghĩ về cái gọi là tự do ý chí khi tôi được mười mấy tuổi. Và thế là Chúa, với lòng nhân từ của ông ta, chuyển qua giết trẻ con.

"Mọi con đầu lòng trong đất Ai-cập sẽ phải chết, từ con đầu lòng của vị Pha-ra-ô đang ngồi trên ngai báu, đến con đầu lòng của đứa đầy tớ gái ngồi sau cối xay, đến mọi con đầu lòng của loài vật." Đó là câu 5 trong sách Xuất hành chương 11.

Tôi nghĩ thầm chắc chắn cũng phải có người Ai Cập nào đó chưa từng đánh roi người Do Thái, có những người Ai Cập nào đó chẳng có chút thù ghét nào dân Do Thái chứ. Hay cũng phải có người Do Thái không đồng tình với chế độ nô lệ, hay không đồng tình với Pharaoh, cũng như chúng ta không đồng tình với lãnh đạo của chúng ta vậy thôi.

Tôi hỏi "mọi đứa bé sao? Thiên chúa đánh phạt tất cả chúng sao?"

Thầy đáp "phải. Từng đứa một."

"Yeah!!!" cả lớp vui mừng hét lên.

Có vẻ như Thiên chúa rất rộng tay, như một họa sỹ vẽ bằng chổi quét nhà. Thầy đạo giảng rằng ngài thậm chí giết cả những con vật nuôi đầu lòng, kiểu như bò, trong nhà dân Ai Cập. Nếu ngài là con người, thì Thiên chúa của dân Do Thái, của Kito giáo, và của cả Hồi Giáo nữa sẽ bị tóm cổ và đưa ra trước tòa án công lý quốc tế. Ấy vậy mà chúng ta lại ca ngợi ông ta, muốn noi theo ông ta, khuyên bảo con cái mình trở nên giống Chúa.

Có lẽ giờ đây, khi người ta bắn tên lửa vào nhau và những ngôi mộ tập thể được phát lộ, là lúc chúng ta hãy thôi bắt chước vị Thiên Chúa đầy thù hận này. Hãy thôi ngợi ca sự tàn ác của ông ta. Hãy dạy con cái chúng ta bỏ qua Chúa, và trở nên khác với ông ta càng nhiều càng tốt.

Ước gì các thầy đạo, linh mục, thầy tế sẽ kể trong lớp cho học sinh nghe rằng "Thiên Chúa đã giết tất cả trẻ con, và như thế là sai trái, các con hiểu không?" Hay là "Chúa đã đuổi Adam và Eve ra khỏi Eden chỉ vì họ đã ăn một trái táo, và như thế là rất quá đáng." Hay là về vụ nguyền rủa toàn thể phụ nữ đến muôn thuở muôn đời vì Eve đã có một lựa chọn của bà ta, "đó là một hình thức trừng phạt tập thể, và các con đừng bao giờ làm thế với người khác." Còn bọn trẻ sẽ la lên "Thiên chúa thật đáng xấu hổ".

Tôi được nuôi dạy theo đúng truyền thống Do Thái chính thống. Mỗi năm, vào đầu tiệc Seder (bữa ăn kỷ niệm Lễ Bỏ Qua), chúng tôi mời những người Do Thái nghèo đói vào ăn chung. Thật là hết sức nhân văn. Thế nhưng chỉ sau một vài tiếng đồng hồ dành cho Chúa, vào cuối buổi tiệc, chúng tôi sẽ mở cửa ra và hét to với ngài "Hãy giáng sự thịnh nộ của Chúa xuống những dân tộc không nhận biết Chúa!"

Và Chúa đã làm thế. Ngài giáng xuống thế giới này những dịch bệnh, thiên tai lũ lụt, hỏa hoạn, v.v. trên người trẻ cũng như người già, có tội hay vô tội. Còn loài người được cho là mang hình ảnh của Thiên chúa cũng làm thế. Chúng ta làm với đạn bom, pháo cối, tên lửa nhiệt áp.

Thầy đạo của tôi từng giảng "Chúa giết luôn cả những con vật nuôi đầu lòng là vì dân Ai Cập tin những con vật đó là thần." Nếu thần thánh mà bị giết được, thì tôi cũng đồng ý.

Năm nay, cuối tiệc Seder, hãy mở cửa cho người lạ, cho những người không thuộc cộng đồng của chúng ta. Hãy chào đón những người mà chúng ta cho là kinh khủng, xấu xa, khác biệt với chúng ta, những người mà ta cho là kẻ thù, hay những người cho chúng ta là kẻ thù của họ, nhưng nếu họ chịu ngồi chung bàn với chúng ta, chúng ta chắc chắn sẽ thấy rằng họ cũng căm ghét những pharaoh của thế giới hiện đại này như chúng ta, và cũng mang một ước nguyện như chúng ta, đó là:

Hòa Bình!

Shalom Auslander

(Bài viết trên báo New York Times của tác giả Shalom Auslander ngày 15/4/2022, Vince tạm dịch. Bạn nào đọc được tiếng Anh thì mở link để xem vì Vince Vince có bỏ qua một số chi tiết nhỏ)